|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hoàng và ông Trịnh Văn Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Tiên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 85/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20/3/2025, về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26/5/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trúc L, Sinh năm: 1983. Địa chỉ: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Trúc L trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị T tìm hiểu, tự nguyện chung sống năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã L vào ngày 08/12/2005, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 06/05, Quyển số 01. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn; Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Bà T nghi ngờ ông có tình cảm với người khác nên tạo nhiều áp lực cho ông và con cái, dẫn đến gia đình ngày càng căng thẳng. Vợ chồng cũng có hoà giải với nhau, nhưng không có kết quả dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng và hiện nay tình cảm của ông đối với bà T không còn. Vợ chồng không sống chung từ khoảng năm 2020 cho đến nay. Vào năm 2023, ông L làm đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng không được Toà án chấp nhận (Bản án 14/2024/HNGĐ-ST ngày 20/02/2024). Sau đó vợ chồng cũng tiếp tục mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nên ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/4/2012 và Nguyễn Thị Trúc T1, sinh ngày 17/02/2006. Khi ly hôn, ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng H, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với Nguyễn Thị Trúc T1 đã thành niên, ông tự nguyện nuôi dưỡng cho cháu T1 ăn học nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông cho biết là từ năm 2013 đến nay, các chi phí sinh hoạt gia đình, con cái ăn học đều do ông Linh chi T2. Mặc dù ông yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng ông tự nguyện tiếp tục chi trả các chi phí con cái và cấp dưỡng cho bà T mỗi tháng 5.000.000 đồng để chi tiêu.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị T: Bà thừa nhận mối quan hệ hôn nhân và con chung như ông L trình bày. Vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì lớn, chủ yếu là ông L có mối quan hệ khác ở bên ngoài nên vợ chồng không hạnh phúc, mạnh ai nấy sống. Bà không đồng ý ly hôn, vì muốn các con có cha mẹ. Bà bị tai nạn nên đi lại khó khăn, không có khả năng lao động.
Trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng H, việc cấp dưỡng thì tuỳ ông L, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi cho rằng:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông L được ly hôn bà T.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng H cho ông L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện việc ông L cấp dưỡng cho bà T mỗi tháng 5.000.000 đồng
Về tài sản chung và nợ chung không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn – ông Nguyễn Trúc L nộp đơn khởi kiện về việc "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con" đối với bà Nguyễn Thị T. Bị đơn có nơi cư trú tại thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Trúc L có mặt tại phiên toà, bà Nguyễn Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt; Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Trúc L, bà Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã L vào ngày 08/12/2005, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 06/05, Quyển số 01 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Ông L cho rằng ông không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn với bà T. Bà T thì cho rằng vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì lớn, chủ yếu là ông L có mối quan hệ khác ở bên ngoài nên vợ chồng không hạnh phúc, mạnh ai nấy sống. Vì các con nên bà T không đồng ý ly hôn. Xét yêu cầu ly hôn của ông L, HĐXX xét thấy Toà án đã nhiều lần tạo điều kiện để hoà giải hàn gắn cho vợ chồng nhưng ông L vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Vào năm 2023 khi ông L khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn thì Toà án đã không chấp nhận đơn khởi kiện của ông L (Bản án 14/2024/HNGĐ-ST ngày 20/02/2024) nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng có giải pháp giải quyết mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Mặc dù Toà án không chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn để vợ chồng có thêm thời gian, điều kiện hàn gắn nhưng ông bà vẫn không tìm được giải pháp hàn gắn vợ chồng, ông bà mạnh ai nấy sống. Đến năm 2025, ông L tiếp tục làm đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của ông bà, thể hiện: “... Vợ chồng ông, bà có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề, cuộc sống vợ chồng căng thẳng...”. Điều này chứng tỏ ông bà không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa ông, bà đã thật sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn, là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Con chung: Ông, bà có 02 con chung là Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/4/2012 và Nguyễn Thị Trúc T1, sinh ngày 17/02/2006. Xét, yêu cầu nuôi con của ông L, bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo cho con trẻ được phát triển bình thường, đầy đủ nhất về thể chất và tinh thần. Hiện tại cháu H đang ở với bà T cùng gia đình ông L. Toà án đã yêu cầu ông L dẫn cháu H đến Toà để xem xét nguyện vọng của cháu muốn ở với ai nhưng cháu H không đồng ý đến Toà. Xét thấy bà T đi lại bị hạn chế, không có khả năng lao động, nếu giao con cho bà T nuôi dưỡng thì không đảm bảo việc chăm sóc con chung. Trong khi đó, ông L có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu tốt và từ trước đến nay ông L là người chi trả các chi phí sinh hoạt của gia đình, cháu H cũng đang ở nhà gia đình ông L. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng H cho ông L nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với cháu Nguyễn Thị Trúc T1 đã thành niên, ông L tự nguyện nuôi dưỡng cháu T1 nên HĐXX không xét.
Bà T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Để đảm bảo quyền lợi của con chung, bà T được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nếu có căn cứ theo quy định pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng. Tuy nhiên, xét thấy bà T đi lại khó khăn, không có khả năng lao động. Ông L tự nguyện cấp dưỡng bà T mỗi tháng 5.000.000 đồng là phù hợp nên HĐXX ghi nhận.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, 51, 56, 58, 69, 81, 82, 83 và 115 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Trúc L được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trúc L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Nguyễn Thị T mỗi tháng 5.000.000 (Năm triệu) đồng kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/4/2012, Giới tính: Nam cho ông Nguyễn Trúc L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Bà Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Bà T được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nếu có căn cứ theo quy định pháp luật.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Trúc L tự nguyện chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn và 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình về cấp dưỡng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, theo biên lai số 0012307, ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Ông Nguyễn Trúc L còn phải nộp 300.000 đồng án phí.
[5] Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Trúc L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Nguyễn Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Công Thịnh |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trúc L ly hôn Nguyễn Thị Th
