Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 6 năm 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Linh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 90/2025/TLST – HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2025 về yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lê Thị G, sinh năm 2001(có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Địa chỉ: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

  3. Bị đơn: anh Lê Hồng Q, sinh năm 2002 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

Hiện đang đi nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đội 9, Trung đội C, Đại đội 14, Trung đoàn bộ binh F, S, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Lê Thị G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q có đăng ký kết hôn vào 18 tháng 3 năm 2024 tại ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn la do thời gian chị mang thai anh Q không quan tâm, chăm sóc, tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau. Hiện tại chị không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hồng Q.

Về con chung: chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q có 01 con chung là Lê Đức M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2024. Ly hôn chị G có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Lê Đức M và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản: chị Lê Thị G tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án do anh Lê Hồng Q hiện đang đi nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đội 9, Trung đội C, Đại đội 14, Trung đoàn bộ binh F, S, Hà Nội nên Tòa án đã tiến hành uỷ thác giao nhận các tài liệu và lấy lời khai của anh Q và anh Q đã được giao nhận các tài liệu đầy đủ. Tại bản tự khai anh Lê Hồng Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị G có đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 3 năm 2024 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng sau đó thì anh phát hiện chị G có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên anh và chị G đã ly thân từ ngày 16 tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Chị G đề nghị ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị G có 01 con chung là Lê Đức M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2024. Ly hôn chị G có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Lê Đức M thì anh đồng ý để chị G nuôi dưỡng con chung, nếu chị G yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung thì anh sẽ cấp dưỡng theo điều kiện thu nhập của anh và nhu cầu sinh hoạt học tập của con chung.

Về quan hệ tài sản: anh Lê Hồng Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị G là cho ly hôn với anh Lê Hồng Q; về nuôi con: chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q có 01 con chung là Lê Đức M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2024 đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Lê Đức M cho chị Lê Thị G được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q do chị G không yêu cầu; Về quan hệ tài sản: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị G yêu cầu ly hôn với anh Lê Hồng Q là bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại làng T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 - Bộ luật tố tụng Dân sự;
  2. [2].Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Quá trình thu thập chứng cứ anh Lê Hồng Q hiện đang đi nghĩa vụ quân sự và chị Lê Thị G đã có bản tự khai và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 điều 227; điểm b khoản 1 điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  3. [3]. Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn tôn trọng và chung thuỷ với nhau. Nay chị Lê Thị G yêu cầu ly hôn thì anh Lê Hồng Q đồng ý ly hôn với chị G. Xét thấy mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu chị Lê Thị G là cho chị G được ly hôn với anh Lê Hồng Q.
  4. [4].Về con chung: chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q có 01 con chung là Lê Đức M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2024. Ly hôn thì chị G có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Q hiện đang đi nghĩa vụ quân sự và anh Q thống nhất để chị G nuôi dưỡng con chung. Quá trình chị G và anh Q ly thân cho đến nay thì chị G là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung vì con chung còn nhỏ. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là cháu Lê Đức M cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q do chị G không yêu cầu.
  5. [5].Về quan hệ tài sản: chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. [6]. Về án phí: áp dụng điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc nguyên đơn chị Lê Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 - Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/20106 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị G và anh Lê Hồng Q.
  2. Về nuôi con chung: giao con chung là cháu Lê Đức M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2024 cho chị Lê Thị G được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

    Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lê Hồng Q do chị Lê Thị G không yêu cầu.

    Anh Lê Hồng Q có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc có lý do chính đáng, theo yêu cầu của một hoặc các bên Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về quan hệ tài sản: các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu nên không xem xét.
  4. Về án phí: chị Lê Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị G đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012605, ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND h. Nghĩa Đàn;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS h. Nghĩa Đàn;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghĩa Lợi, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

( đã ký)

Nguyễn Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger