Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/ HNGĐ-ST.

Ngày: 24/02/2025

“V/v Xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Kiên Nhẫn

2. Bà Đặng Kim Ngân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Lan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình không tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số: 453/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp: “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Tuyết S, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1981 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phạm Tuyết S trình bày: Tôi và anh Trần Ngọc T qua tìm hiểu, được cha mẹ hai bên chấp thuận, tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 06/8/2003.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống và làm việc tại tỉnh Bình Dương, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024, thì phát sinh mâu thuẫn do chồng tôi tụ tập bàn bè ăn chơi, thường xuyên kiếm chuyện với tôi vô cớ, cha mẹ hai bên nhiều lần hoà giải khuyên can để anh T cùng tôi chăm lo xây dựng gia đình nhưng không có kết quả. Tôi và anh T sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến cuộc sống nhau nữa, nay tôi nhận thấy tình cảm không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với anh Trần Ngọc T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 11/8/2003 và Trần Minh T2, sinh năm: 16/6/2009, hiện cháu T1 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn tôi đồng ý giao cháu T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu. Tôi không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình hoà giải bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

Tại phiên toà bị đơn anh Trần Ngọc T trình bày: Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tôi không đồng ý ly hôn, do mâu thuẫn vợ chồng không trầm trọng đến nổi phải ly hôn. Về con chung tôi đồng ý nuôi con theo nguyện vọng của cháu T2, không yêu cầu cô S cấp dưỡng nuôi con.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp “xin ly hôn, nuôi con” giữa nguyên đơn chị Phạm Tuyết S và bị đơn anh Trần Ngọc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn là có căn cứ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Tuyết S và anh Trần Ngọc T qua tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 09 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh T là hợp pháp. Trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Cha mẹ hai bên hoà giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, chị S và anh T đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2024 đến nay, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Ngọc T. Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, tại phiên toà anh T trình bày không muốn ly hôn, do anh còn yêu thương vợ con muốn đoàn tụ cùng chị S để vợ chồng chăm lo cho các con, nhưng hiện nay anh không biết chị S ở đâu và hai người cũng không còn liên lạc, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay là có thật, thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị S được ly hôn với anh T là phù hợp.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 11/8/2003 và Trần Minh T2, sinh năm: 16/6/2009, hiện cháu T1 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Chị S yêu cầu giao con chung tên Trần Minh T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu, anh T đồng ý nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chưa yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ phải thu, nợ phải trả: chưa yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Phạm Tuyết S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227; 228; các Điều 266; 267 của Luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 09, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Tuyết S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Tuyết S được ly hôn với anh Trần Ngọc T.
  2. Về con chung: Con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 11/8/2003 và Trần Minh T2, sinh năm: 16/6/2009, hiện cháu T1 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Giao cháu Trần Minh T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu.

    Các đương sự có quyền tới lui thăm nôm chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chưa yêu cầu nên không xem xét.
  4. Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, nợ phải trả: Chưa yêu cầu, nên không xem xét.
  5. Về án phí: Buộc chị Phạm Tuyết S phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0014478 ngày 07/10/2024. Chị S đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Báo cho bị đơn biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng nguyên đơn được kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tam Bình;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - THADS huyện Tam Bình;
  • - UBND xã Mỹ Thạnh Trung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/ HNGĐ-ST. ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 35/2025/ HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị S yêu cầu được ly hôn với anh T, giao con chung cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu, chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger