|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC H - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/8/2025 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC H - ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Bà Huỳnh Thị Long
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực H - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Diễm Quế A, sinh năm 2004. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T5, xã TĐ, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Anh Trần Công Q, sinh năm 1994. (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: Ấp X, xã GT, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn ngày 06/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Diễm Quế A trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Q tổ chức cưới vào năm 2022 và đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã KP, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay thuộc xã GT, tỉnh Đồng Tháp), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng chị được ba mẹ của chị cho cất nhà sinh sống trên phần đất của ông bà tọa lạc tại ấp T5, xã TĐ, tỉnh Đồng Tháp. Cuộc sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi và anh Q còn đánh chị, chửi mắng và xúc phạm gia đình chị. Anh Q đã về bên gia đình của anh ngụ ấp X, xã GT, tỉnh Đồng Tháp sinh sống từ thời điểm đó đến nay, anh chị không còn liên lạc nhau và cũng không trao đổi hàn gắn tình cảm. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị yêu cầu ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Vợ chồng chị chung sống có 02 người con chung tên Trần Ngọc NY, sinh ngày 31/7/2022 và Trần Ngọc NQ, sinh ngày 13/10/2024, các cháu hiện sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung: Chị và anh Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Công Q không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn dù anh đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực H - Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Diễm Quế A. Cho chị Trần Diễm Quế A được ly hôn với anh Trần Công Q.
+ Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Trần Ngọc NY, sinh ngày 31/7/2022 và Trần Ngọc NQ, sinh ngày 13/10/2024 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng; buộc anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung theo quy định pháp luật. Anh Q được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, bị đơn anh Q vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị A, nhận thấy:
- Vợ chồng chị kết hôn vào năm 2023, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KP, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay thuộc xã GT, tỉnh Đồng Tháp) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 21/3/2023 nên là hôn nhân hợp pháp.
- Theo lời trình bày của chị A: Sau khi kết hôn, chị và anh Q chung sống đến đầu năm 2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi, anh Q còn đánh chị và chửi mắng, xúc phạm chị cùng gia đình của chị; hiện anh chị đã sống ly thân và không thể hàn gắn tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Q nhưng anh không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị A. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xem như anh Q mặc nhiên thừa nhận những mâu thuẫn vợ chồng như chị A đã nêu và điều này cho thấy anh cũng không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị A, cho chị được ly hôn với anh Q là cần thiết và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[4] Về nuôi con chung:
- Anh chị chung sống có 02 người con chung tên Trần Ngọc NY, sinh ngày 31/7/2022 và Trần Ngọc NQ, sinh ngày 13/10/2024. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung của chị A là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, các cháu hiện sống cùng chị đã ổn định cuộc sống về mọi mặt và hiện còn rất nhỏ tuổi nên rất cần mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Q cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị. Do đó, việc giao các cháu cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Q được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Xét yêu cầu của chị A là có căn cứ chấp nhận. Vì anh Q không trực tiếp nuôi con nên anh phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, do chị A không cung cấp được chứng cứ về thu nhập hiện tại của anh Q cũng như tài liệu về các khoản chi phí hàng tháng để nuôi dưỡng các con nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định thu nhập của anh Q thuộc trường hợp lao động phổ thông và xác định mức cấp dưỡng nuôi con mà anh Q phải thực hiện mỗi tháng tại thời điểm hiện nay là 1/2 tháng lương tối thiểu vùng nơi anh Q cư trú tương ứng 1.725.000 đồng/tháng/người con (lương tối thiểu vùng căn cứ theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động). Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi, lao động được.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
- Chị A yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực H - Đồng Tháp là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Diễm Quế A. Cho chị Trần Diễm Quế A được ly hôn với anh Trần Công Q.
2. Về nuôi con chung:
- Giao cho chị Anh được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Ngọc NY, sinh ngày 31/7/2022 và Trần Ngọc NQ, sinh ngày 13/10/2024.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật là 1.725.000 (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng/tháng/người con, thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu NY và cháu NQ đủ 18 tuổi, lao động được.
- Anh Q được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
- Chị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014209 ngày 22/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp) nên xem như chị đã nộp xong án phí.
- Anh Q phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bích Thiền |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC H - ĐỒNG THÁP về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC H - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của chị A
