TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 – 3 – 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Hồng.
- Bà Đặng Thị Lệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 487/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thu T – sinh ngày: 10/02/1993 (Vắng mặt, có đơn).
- Bị đơn: Anh Trương Chí N - sinh ngày: 10/3/1985 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Ngô Thị Thu T có đơn xin vắng mặt nhưng tại đơn khởi kiện ngày 27/8/2024 chị Ngô Thị Thu T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Trương Chí N do quen biết rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V. Sau ngày cưới vợ chồng chị sống tại ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 09 năm đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị và anh N đã không còn sống chung với nhau từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh N.
- Về con chung: Chị và anh N có hai người con chung tên Trương Trọng K, sinh ngày 23/8/2011 và cháu Trương Ngô Ngân K1, sinh ngày 05/4/2021. Hiện nay cháu K và cháu K1 đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K và cháu K1, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung phải thu phải trả của vợ chồng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh N đã được Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử vụ án. Xét việc vắng mặt của anh N không gây trở ngại cho việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị T và bị đơn anh N, anh N có nơi cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Nguyên đơn chị T có đơn xin vắng mặt không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị T. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh N vắng mặt, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N cũng không đến Tòa án nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N do quen biết rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 25/3/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống theo chị T trình bày thì thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được 09 năm đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị T và anh N không còn chung sống với nhau từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu ly hôn với anh N, anh N vắng mặt nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
- Về con chung: Chị T và anh N có 02 người con chung tên Trương Trọng K, sinh ngày 23/8/2011 và cháu Trương Ngô Ngân K1, sinh ngày 05/4/2021. Hiện nay cháu K và cháu K1 đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K và cháu K1, chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị T và anh N không còn chung sống với nhau cho đến nay thì cháu K và cháu K1 sống chung với chị T. Tại bảng khai ý kiến ngày 03/01/2025 của cháu K thì cháu K có nguyện vọng sống với chị T, anh N vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T nên giao cháu K và cháu K1 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Thu T.
- Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Thu T được ly hôn với anh Trương Chí N.
- Về con chung: Giao cháu Trương Trọng K, sinh ngày 23/8/2011 và cháu Trương Ngô Ngân K1, sinh ngày 05/4/2021 cho chị Ngô Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trương Chí N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Trương Chí N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Ngô Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Trương Chí N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm:
+ Chị Ngô Thị Thu T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình. Số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Ngô Thị Thu T đã nộp theo biên lai thu số Nº0009470, ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Chị Ngô Thị Thu T đã nộp đủ.
+ Anh Trương Chí N không phải nộp án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Lanh |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
