|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-3-2025 “V/v: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chung
- Ông Trương Tha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 634/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐ.ST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng T – sinh năm 1995 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị đơn: Ông Lê Thành T1 – sinh năm 1991 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà và ông Lê Thành T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa vào năm 2019. Sau khi kết hôn, bà và ông T1 chung sống tại địa phương UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Bà và ông T1 cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không được. Hiện nay, bà và ông T1 đã sống ly thân với nhau. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà và ông T1 có 01(một) con chung là Lê Ngọc Quế T2 – sinh ngày 29/7/2019. Sau khi ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Thành T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia nên không có ý kiến trình bày.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T cung cấp:
- Đơn khởi kiện (bản chính);
- Trích lục kết hôn (bản sao);
- Trích lục khai sinh con chung (bản sao);
- CCCD (bản photo) có tên Lê Thị Hồng T;
- Bản tự khai.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đã không chấp hành đúng quy định, vi phạm quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân, bà Lê Thị Hồng T được ly hôn với ông Lê Thành T1; Về con chung, giao con chung là Lê Ngọc Quế T2 – sinh ngày 29/7/2019 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, bà T không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về nợ chung, không có nên đề nghị không xem xét. Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật:
[1.1]. Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn ông Lê Thành T1 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Bà Lê Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Lê Thành T1, hiện cư trú tại Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng T và ông Lê Thành T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn được UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 14/02/2019. Do đó, hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà T yêu cầu ly hôn ông T1 vì trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, bà T và ông T1 đã sống ly thân với nhau. Mặt khác, bà T và ông T1 đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không được. Nay, bà T không thể chấp nhận được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông T1.
Ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến, bỏ mặc việc giải quyết cho Tòa án và không có thiện chí muốn đoàn tụ với bà T.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Mục đích của hôn nhân là việc vợ chồng yêu thương nhau, cùng chăm lo cho gia đình và có cuộc sống hạnh phúc nhưng bà T và ông T1 không còn chung sống vợ chồng với nhau, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trong thời gian dài. Ông T1 không có hành động níu kéo hạnh phúc vợ chồng, không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà T. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 là có cơ sở, phù hợp với căn cứ cho ly hôn tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Bà T và ông T1 có 01(một) con chung là cháu Lê Ngọc Quế T2 – sinh ngày 29/7/2019. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Con chung hiện nay còn nhỏ và đang được bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, việc giao con chung cho bà T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với các quy định pháp luật. Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[2.4]. Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần ghi nhận.
[4] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006294 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng T được ly hôn ông Lê Thành T1. Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2019 do UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp 14/02/2019 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 01 (một) con chung là Lê Ngọc Quế T2 – sinh ngày 29/7/2019 cho bà Lê Thị Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006294 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
Ông Lê Thành T1 được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản và không cấp dưỡng nuôi con chung. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con..
Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Đạt |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
