Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2025

V/v: “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Đình Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải

Ông Mai Đức Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Hôn nhân gia đình” thụ lý số: 386/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị V - sinh năm 2003 (có mặt)

HKTT: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Hoàng Khắc M - sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa chị Lê Thị V (nguyên đơn) trình bày:

Chị và anh Hoàng Khắc M tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 10/8/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn hai vợ chồng không tổ chức cưới và không sống chung với nhau, chị sống tại nhà bố mẹ đẻ, anh M đi làm ăn xa. Do vậy thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, không có tiếng nói chung. Trong thời gian chị sống cùng bố mẹ đẻ, anh M không quan tâm, chăm sóc vợ con, dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị xin ly hôn đối với anh Hoàng Khắc M.

* Về con chung:

- Chị V trình bày: Chị và anh M có 01 con chung: Cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 13/3/2024; Hiện nay cháu Minh K đang ở với chị. Ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Hoàng Khắc M không có mặt để giải quyết vụ án, qua xác minh tại nơi cư trú thì anh Hoàng Khắc M trú tại: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Tại biên bản ghi lời khai bà Lê Thị N (mẹ đẻ anh M) trình bày:

Anh Hoàng Khắc M và chị Lê Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2023 tại UBND xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Anh M và chị V có 01 con chung: Cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 13/3/2024, hiện nay cháu Minh K đang ở với chị V.

Sau khi kết hôn chị V ở nhà bố mẹ đẻ, không ở cùng anh M. Hiện nay anh M không có mặt tại nhà và đang làm việc tại Hà Nội. Anh M có biết việc chị V xin ly hôn, anh M có trao đổi với bà là chị V muốn ly hôn thì tự chị V làm đơn, tự giải quyết, anh M không đến Toà án làm việc, không tham gia phiên toà, việc giải quyết thế nào do Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà nhận các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết thông báo và giao cho anh M biết các văn bản của Toà án.

* Ý kiến của Chính quyền địa phương nơi anh Hoàng Khắc M sinh sống:

Anh Hoàng Khắc M và chị Lê Thị V, đăng ký kết hôn ngày 10/8/2023 tại UBND xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn chị Lê Thị V sinh sống với bố mẹ đẻ tại phường H, thị xã nghi S; chị V và anh M có 1 con chung cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 13/3/2024, hiện nay cháu Minh K đang ở với chị V.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, đã thực hiện đầy đủ theo quy định, bị đơn vắng mặt không có lý do.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, khoản 1 Điều 207, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lê Thị V và anh Hoàng Khắc M được ly hôn.

- Về con chung: Đề nghị giao cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 13/3/2024 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản: Chị V không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc tống đạt các thủ tục tố tụng trong vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập, phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn anh Hoàng Khắc M lần thứ 2 hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý bị đơn không có mặt tại địa phương, Tòa án đã xác minh tại địa phương và gia đình bị đơn. Bị đơn đã đi khỏi nơi cư trú và không thông báo địa chỉ mới cho người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, làm cho nguyên đơn không biết được nhằm mục đích che dấu địa chỉ và bị đơn đã biết và được gia đình thông báo về việc nguyên đơn xin ly hôn. Do đó căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Hoàng Khắc M, tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 10/8/2023 tại UBND xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh M là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn chị V sống cùng bố mẹ đẻ, anh M đi làm ăn xa, dẫn đến tình cảm vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh M không quan tâm chăm sóc vợ con, dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Qua xác minh tại địa phương nơi anh M sinh sống, anh M đi hiện nay đi làm ở Hà Nội, chị V ở với bố mẹ đẻ ở tổ dân phố B, phường H, thị xã N. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị V.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị V và anh Hoàng Khắc M có 01 con chung cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 13/3/2024; hiện nay cháu Minh K đang ở với chị V. Nguyện vọng của chị V đề nghị được nuôi dưỡng cháu Minh K và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Do đó tiếp tục giao cháu Minh K cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản và công nợ: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Án phí: Chị Lê Thị V phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 4 điều 147; điểm e khoản khoản 1 Điều 192; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51; Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Hoàng Khắc M được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Minh K cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng; anh M không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    Anh M có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản và công nợ: Chị V không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị V phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số: 0003078 ngày 27/12/2024 tại Chi cục Thị hành án dân sự thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND xã Thanh Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Đình Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con giữa chị V và anh M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger