|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/6/2025 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH – TỈNH KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Quang Thành
- Ông Đỗ Ngọc Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Trúc Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P; Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn P B, thôn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức S; Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2024 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 25/6/2024), biên bản lấy lời khai ngày 18/02/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà và ông Nguyễn Đức S đăng ký kết hôn ngày 02/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 02/3/2009. Sau khi kết hôn hai vợ chồng hạnh phúc đến mấy năm gần nay thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Nay bà P nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đức S.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian hôn nhân, bà và ông S có 02 (hai) con chung là Nguyễn Thị Bích C, sinh ngày 15/11/2008 và Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 24/02/2014.
Khi ly hôn, bà S yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung cho đến khi các con chung lần lượt trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi các con chung.
Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà P xác định giữa bà và ông S không có nợ chung.
* Đối với ông Nguyễn Đức S trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S theo quy định của pháp luật, cụ thể như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; các giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cùng Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để ông S thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông S đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể lấy lời khai của ông S cũng như không tiến hành hòa giải được.
* Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên nhận định: Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý, giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ theo Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn và nuôi con. Về tài sản chung, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xét. Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1983 khởi kiện ông Nguyễn Đức S có địa chỉ cư trú tại Thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa về việc “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[2] Về yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức S cưới nhau năm 2009, đăng ký kết hôn ngày 02/3/2009 và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức S là hợp pháp.
Theo bà P trong quá trình chung sống, giữa bà P và ông S thực tế mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, điều đó chứng tỏ giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai không tìm được giải pháp nào để tiếp tục sống chung với nhau, xây dựng hạnh phúc gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Đức S đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng ông Nguyễn Đức S đều không có mặt, điều này chứng tỏ ông Nguyễn Đức S không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa, nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa hai người đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Đức S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của bà Nguyễn Thị P.
[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà P và ông S có 02 (hai) con chung là Nguyễn Thị Bích C, sinh ngày 15/11/2008 và Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 24/02/2014. Hiện nay, cháu C và cháu L do bà P nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà P có nguyện vọng được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu L và cháu C. Ngoài ra, các cháu L, C có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là Nguyễn Thị Bích C và Nguyễn Thị Cẩm L là đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các cháu, cũng như phù hợp với hoàn cảnh điều kiện, nguyện vọng của các cháu nên được chấp nhận.
Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông Nguyễn Đức S cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị P trình bày giữa bà và ông Nguyễn Đức S không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị P chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P với bị đơn ông Nguyễn Đức S.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn Đức S.
1.2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Giao cho bà Nguyễn Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là Nguyễn Thị Bích C, sinh ngày 15/11/2008 và Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 24/02/2014 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông Nguyễn Đức S cấp dưỡng nuôi các con chung.
Ông Nguyễn Đức S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết bà P, ông S có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007262 ngày 24/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. Bà P đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
* Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà |
|
Hồ Quang Thành Đỗ Ngọc Q Đào Minh T |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Minh Tuấn |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH – TỈNH KHÁNH HOÀ về ly hôn
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH – TỈNH KHÁNH HOÀ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: án
