Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16/6/2025

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Đào;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Trụ.

2. Ông Nguyễn Ngọc Chín.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964.

ĐKHKTT: Khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là: Ông Lê Văn C, sinh năm 1979, thuộc đoàn luật sư tỉnh Phú Thọ.

Địa chỉ: Tòa nhà L, số nhà B Đại lộ H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Đào Văn H1, sinh năm 1963.

ĐKHKTT: Khu B, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đào Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 29/9/1992 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Vĩnh Phú (Nay là xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ). Khi kết hôn hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung cùng gia đình ông H1 tại khu B, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đến tháng 01/1993 thì chuyển về sinh sống ở nhà mẹ đẻ bà tại khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình vợ chồng chung sống không được hòa thuận hạnh phúc nguyên nhân là do trước khi ông H1 lấy bà, ông H1 đã có vợ nhưng không đăng ký và đã có con, ông H1 thường xuyên đi qua đêm không về, không quan tâm, chăm sóc con cái, gia đình. Bà và ông H1 thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, ông H1 thường xuyên có những hành vi đánh đập, đe doạ và chửi bới bà. Nhưng vì được hai bên gia đình hoà giải và thương con nên tôi vẫn tha thứ và chung sống với ông H1. Cho đến năm 2022, mâu thuẫn giữa bà và ông H1 lên đến đỉnh điểm. Ngày 16/9/2022, ông H1 đã có hành vi đánh đập bà khiến bà bị thương, gãy một răng và chảy máu mồm, bà phải nhờ chính quyền địa phương và công an xã đến can thiệp, sau đó bà và ông H1 sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà đề nghị Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đào Văn H1.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Minh H2, sinh năm 1993, cháu H2 đã chết năm 2013 nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21, diện tích 378m², trong đó 300m² đất ở, 78m² đất ĐRM, địa chỉ khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số 00386H QSDĐ ngày 26/12/2001. Trên thửa đất này xây 01 ngôi nhà cấp bốn đổ mái bằng, xây năm 2012. Ngày 20/5/2025, bà H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về phân chia tài sản chung của vợ chồng, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, công sức đóng góp: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đào Văn H1 trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông thừa nhận lời trình bày của bà H về quá trình kết hôn, quá trình chung sống là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 1993 thì bắt xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, có sảy ra cãi chửi nhau, ông không đánh bà H như bà H nói, ông có tát bà H, ông thường xuyên đi làm xa không ở nhà, vợ chồng đã sống ly thân được 03 năm. Nay bà H xin ly hôn ông không nhất trí, nếu bà H kiên quyết ly hôn ông đề nghị giải quyết theo pháp luật.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Minh H2, sinh năm 1993, cháu H2 đã chết năm 2013 nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung:

Vợ chồng có 01 thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21, diện tích 378m², trong đó 300m² đất ở, 78m² đất ĐRM, địa chỉ khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số 00386H QSDĐ ngày 26/12/2001. Trên thửa đất này xây 01 ngôi nhà cấp bốn đổ mái bằng, xây năm 2012. Khi ly hôn ông đề nghị chia đôi nhà và đất. Về cây cối lâm lộc trên đất của ai thì người đó sử dụng không đề nghị Tòa án định giá. Ngày 20/5/2025, bà H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về phân chia tài sản chung của vợ chồng, không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông H1 nhất trí không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, công sức đóng góp: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, cho bà H được ly hôn với ông H1; Về con chung: Vợ chồng ông bà có một con chung là Đào Minh H2, sinh năm 1993, con chung ông bà nên không đề nghị Tòa án giải quyết; Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phát biểu của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H,

X:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Đào Văn H1.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Minh H2, sinh năm 1993, cháu H2 đã chết năm 2013 nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21, diện tích 378m², trong đó 300m² đất ở, 78m² đất ĐRM, địa chỉ khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số 00386H QSDĐ ngày 26/12/2001. Trên thửa đất này xây 01 ngôi nhà cấp bốn đổ mái bằng, xây năm 2012. Ngày 20/5/2025, bà H có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện về phân chia tài sản chung của vợ chồng, không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông H1 nhất trí không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy đề nghị HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung.

Về nợ chung, công sức đóng góp: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về chi phí tố tụng: Bà H xin tự chịu không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Đào Văn H1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Đào Văn H1 đăng ký thường trú tại Khu B, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, quá trình giải quyết vụ án ông H1 về ở tại khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ nhưng không có đăng ký tạm trú tại xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, ông H1 và bà H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Đào Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 29/9/1992 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Vĩnh Phú (Nay là xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ). Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Đó là cuộc hôn nhân tiến bộ và hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung cùng gia đình ông H1 tại khu B, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đến tháng 01/1993 thì chuyển về sinh sống ở nhà mẹ đẻ bà tại khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 1993 thì bắt xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tình cảm, ông H1 đã có mối quan hệ ngoài luồng. Mẫu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không quan tâm đến nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1. Ông H1 không nhất trí ly hôn, nếu bà H kiên quyết ly hôn ông đề nghị giải quyết theo pháp luật. Qua xác minh tại chính quyền địa phương thấy rằng cuộc hôn nhân của bà H và ông H1 có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Phía ông H1 cũng thừa nhận vợ chồng có nhiều mẫu thuẫn do bất đồng vquan điểm sông vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không quan tâm đến nhau, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bà H vẫn kiên quyết ly hôn, ông H1 không có biện pháp nào để hằn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy cuộc hôn nhân giữa bà H và ông H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, bà H đề nghị xin ly hôn với ông H1 là có căn cứ để chấp nhận nên xử cho bà H được ly hôn với ông H1 là phù hợp với Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Minh H2, sinh năm 1993, cháu H2 đã chết năm 2013 nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21, diện tích 378m², trong đó 300m² đất ở, 78m² đất ĐRM, địa chỉ khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số 00386H QSDĐ ngày 26/12/2001. Trên thửa đất này xây 01 ngôi nhà cấp bốn đổ mái bằng, xây năm 2012. Ngày 20/5/2025, bà H có đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện về phân chia tài sản chung của vợ chồng, không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông H1 nhất trí không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung, công sức đóng góp: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

[6] Về chi phí tố tụng: Bà H xin tự chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.

[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Đối với quan điểm bảo vệ của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đưa ra có căn cứ nên Tòa án cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Đào Văn H1.
  2. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Minh H2, sinh năm 1993, cháu H2 đã chết năm 2013 nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Bà H và ông H1 có 01 thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21, diện tích 378m², trong đó 300m² đất ở, 78m² đất ĐRM, địa chỉ khu F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp GCNQSDĐ số 00386H QSDĐ ngày 26/12/2001, trên thửa đất có xây 01 ngôi nhà cấp bốn đổ mái bằng. Bà H và ông H1 không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung, công sức đóng góp: Bà H, ông H1 không đề nghị Tòa án giải quyết.
  5. Về chi phí tố tụng: Bà H xin tự chịu không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.
  6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006108 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - CCTHADS thành phố Việt Trì;
  • - UBND xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HS-VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H xin ly hôn ông H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger