|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HNGĐ- ST
Ngày 08/4/2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thái
2. Ông Đặng Minh Khôi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08/4/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 429/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/12/2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng S, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Lưu Thị L, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn anh Nguyễn Trọng S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và cô Lưu Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện S ngày 12/11/2014, sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau ngay tại xã L cùng gia đình nhà anh, đến năm 2021 anh chị chuyển về chung sống cùng gia đình nhà cô L ở xã K, huyện L.
Mâu thuẫn phát sinh từ khoảng tháng 10/2023 đến nay, nguyên nhân do cô L có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác, thời điểm đó cô L đang ở trọ tại khu công nghiệp V- V để làm công nhân, cuối tuần cô L mới về nhà. Khi phát hiện ra sự việc như vậy thì anh có khuyên bảo cô L là chấm dứt việc quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Cô L có đồng ý không ở trọ tại khu công nghiệp V- V nữa mà dọn về nhà ở, sáng đi làm, tối về. Nhưng được khoảng 2 tuần thì cô L lại tiếp tục ở trọ tại khu công nghiệp V- V để làm công nhân, cuối tuần cô L mới về nhà.
Từ đó, anh chị không còn quan tâm đến nhau nữa, việc ai người đó làm, tình cảm vợ chồng từ đó nhạt dần. Anh cũng ở trọ tại Khu công Nghiệp Y- Bắc Ninh, thi thoảng mới về nhà để thăm nom con cái học hành, xong anh lại đi.
Bản thân anh chị đã có rất nhiều lần ngồi lại với nhau để dàn xếp chuyện vợ chồng nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên có biết việc anh chị xảy ra mâu thuẫn và có dàn xếp, khuyên bảo hai vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị chính thức sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2023 đến nay.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh chị không thể tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với cô Lưu Thị L.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015 và Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021. Hiện nay cả hai con chung đang ở với cô L, nay ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được được nuôi con chung là Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021 và anh đồng ý để cô L được nuôi con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh tự nguyện không yêu cầu cô L phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh vì mỗi người nuôi một con chung nên không cần cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị không có tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh Nguyễn Trọng S không còn yêu cầu nào khác.
* Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho chị L, nhưng chị L không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên toà hôm nay, chị L vắng mặt không có lý do.
* Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Lưu Văn C1 là bố đẻ của chị L, ông C1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh S và chị L được gia đình hai bên cho tự do tìm hiểu và có đăng ký theo phong tục địa phương năm 2014. Sau khi kết hôn thì anh S về ở cùng gia đình ông. Tuy nhiên đến năm 2023 thì anh chị xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo ông được biết là do anh S nghi ngờ chị L có mối quan hệ bên ngoài nhưng chỉ là nghi ngờ chứ không có thông tin chính xác.
Gia đình không muốn anh chị bỏ nhau nhưng gia đình cũng chưa tác động gì để vợ chồng đoàn tụ. Nay anh S xin ly hôn chị L thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015 và Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021. Hiện nay hai con chung đang ở với chị L. Nếu ly hôn, ông đồng ý theo nguyện vọng của anh chị, nếu anh S không muốn nuôi con thì giao cả hai con chung cho chị L nuôi.
- Về tài sản chung: Anh S và chị L không có tài sản gì chung.
Ngoài ra, ông Lưu Văn C1 không trình bày thêm gì.
- Ngày 24 tháng 01 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Lưu Thị L vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 26 tháng 02 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Lưu Thị L vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 21 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam mở phiên tòa xét xử vụ án, anh S có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
- Tại phiên tòa hôm nay, anh S có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt anh S và chị L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- + Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Trọng S được ly hôn chị Lưu Thị L.
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Trọng S trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021; giao cho chị Lưu Thị L trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Buộc anh Nguyễn Trọng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là anh Nguyễn Trọng S đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là chị Lưu Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Trọng S và chị Lưu Thị L có địa chỉ tại xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Nguyễn Trọng S có đơn xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với chị Lưu Thị L nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
[4] Về nội dung:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng S và chị Lưu Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện S ngày 12/11/2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị L là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh S là do cô L có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác, thời điểm đó cô L đang ở trọ tại khu công nghiệp V- V để làm công nhân, cuối tuần cô L mới về nhà. Khi phát hiện ra sự việc như vậy thì anh có khuyên bảo cô L là chấm dứt việc quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Cô L có đồng ý không ở trọ tại khu công nghiệp V- V nữa mà dọn về nhà ở, sáng đi làm, tối về. Nhưng được khoảng 2 tuần thì cô L lại tiếp tục ở trọ tại khu công nghiệp V- V để làm công nhân. Từ đó, anh chị không còn quan tâm đến nhau nữa, việc ai người đó làm, tình cảm vợ chồng từ đó nhạt dần.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, ông Lưu Văn H - Trưởng thôn H1, xã K cho biết: Quá trình chung sống vợ chồng, anh S và chị L xảy ra mâu thuẫn như nào thì ông không nắm được nhưng ông có nghe nói nguyên nhân là do ghen
tuông. Nay anh S xin ly hôn chị L thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của hai bên.
Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa anh S và chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho anh S được ly hôn với chị L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Anh S và chị L có hai con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015 và Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021. Hiện nay hai con chung đang ở cùng chị L. Nay ly hôn, anh S đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi con chung là Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021, anh S đồng ý để chị L được nuôi con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015.
Xét thấy: Đề nghị của anh S là tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội. Do vậy, cần giao con chung là Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn anh S và chị L được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Anh S không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Trọng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Trọng S được ly hôn với chị Lưu Thị L.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Trọng S trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trọng V, sinh ngày 11/01/2021; giao cho chị Lưu Thị L trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Khánh C, sinh ngày 16/02/2015.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh S và chị L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Anh Nguyễn Trọng S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0004482 ngày 12/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Xác nhận anh Nguyễn Trọng S đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc Oanh |
Bản án số 35/2025/HNGĐ- ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Ngọc S xin ly hôn chị Lưu Thị L
