|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 3 - 2025 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể và ông Bùi Văn Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 246/2024/TLST - HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXX-ST, ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32 /2025/TB-TA, ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Võ Quang T1, sinh 1984, Địa chỉ cuối cùng trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (hiện lao động tại Đức) – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Quang T1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 17/12/2010, tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được hai năm. Đến năm 2019 anh T1 đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, nên tình cảm vợ chồng nhạt dần, mâu thuẫn vợ chồng không hòa giải được. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Quang T1.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là cháu Võ Quang K, sinh ngày: 22/3/2011; cháu Võ Quang H, sinh ngày: 10/10/2012; cháu Võ Thị Anh Thư S ngày 08/10/2014, chị Nguyễn Thị T có yêu cầu Tòa án giao các con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và đơn trình bày chị Nguyễn Thị T trình bày hiện nay các con chung là các cháu Võ Quang K, sinh ngày: 22/3/2011; cháu Võ Quang H, sinh ngày: 10/10/2012; cháu Võ Thị Anh Thư S ngày 08/10/2014 đang ở cùng ông bà nội, hiện nay chị đang đi làm ăn xa và không muốn cuộc sống của các con bị xáo trộn, để các con tiếp tục ổn định học tập chị và anh T1 đã thống nhất giao con chung cho anh T1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện nay anh T1 đang lao động tại Đức nên anh T1 nhờ mẹ đẻ của anh là bà Nguyễn Thị D tiếp tục thay anh chăm sóc các cháu và chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Ngoài ra chị T còn trình bày hiện nay đang đi làm ăn xa nên chị đề nghị tòa án giải quyết vụ án vắng mặt chị
Đối với bị đơn anh Võ Quang T1, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và được người thân của anh T1 nhận thay. Đồng thời, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông tin trên phương tiện thông tin theo quy định để anh Võ Quang T1 biết việc chị Nguyễn Thị T có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng đến nay anh T1 vẫn không có văn bản trình bày quan điểm. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 10/01/2025 bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ của anh Võ quang T1 trình bày bà đã nhận được thông báo thụ lý của tòa án và đã thông tin cho anh T1 biết. Tại buổi làm việc, qua cuộc gọi video có sự chứng kiến của bà D và cán bộ tư pháp xã anh T1 cũng trình bày thống nhất như về thời điểm đăng ký kết hôn cũng như mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, nay chị T có yêu cầu ly hôn, anh không có ý kiến gì. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 03 con chùng là cháu Võ Quang K, sinh ngày: 22/3/2011; cháu Võ Quang H, sinh ngày: 10/10/2012; cháu Võ Thị Anh Thư S ngày 08/10/2014 anh T1 có nguyện vọng được nuôi ba con chung, hiện nay anh đang ở nước ngoài nên anh ủy quyền cho mẹ đẻ anh thay anh chăm sóc các con cho đến khi anh về nước và anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nghe anh T1 trình bày bà D đồng ý thay anh T1 chăm sóc các cháu cho đến khi anh T1 về nước và thay anh thắng nhận các văn bản, tài liệu do tòa án tống đạt, cam kết sẽ thông tin kịp thời cho anh T1 được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28; 37; 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 25, điểm a, mục 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:
- - Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Võ Quang T1.
- - Về con chung: Giao các con chung Võ Quang K, sinh ngày: 22/3/2011; cháu Võ Quang H, sinh ngày: 10/10/2012; cháu Võ Thị Anh Thư S ngày 08/10/2014 cho anh Võ Quang T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T1 ở nước ngoài tạm thời giao các cháu cho bà D chăm sóc đến khi anh T1 về nước. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về án phí: chị Nguyễn Thị T nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T trình bày hiện nay anh Võ Quang T1 đang lao động tại Đức, không có địa chỉ cụ thể. Vì vậy, Tòa án đã đề nghị Cục Q cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Võ Quang T1 và tại Công văn số 104/ QLXNC - Đ1, ngày 07/02/2025 của Phòng QLXNC Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Võ Quang T1, sinh ngày 04/01/1984 đã xuất cảnh ngày 19/10/2022 qua sân bay Quốc tế N và hiện chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Võ Quang T1 thông qua người thân của anh và thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.
Tại phiên tòa, anh Võ Quang T1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết vắng mặt anh theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Võ Quang T1 đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Năm 2022, anh T1 đi lao động tại Đức đến nay chưa về nước, giữa chị T và anh T1 ngày càng có sự khác biệt về suy nghĩ và lối sống nên cả hai không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng không còn có tiếng nói chung. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị Nguyễn Thị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các xin được ly hôn anh Võ Quang T1.
Xét thấy, thực tế hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T với anh Võ Quang T1 tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc duy trì cuộc sống chung vợ chồng là không có ý nghĩa, cả hai người đã cắt đứt liên lạc, sống ly thân với nhau. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T xử cho chị T được ly hôn với anh Võ Quang T1.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Xét thấy, chị Nguyễn Thị T và anh Võ Quang T1 đều có nguyện vọng giao các con chung cho anh T1 chăm sóc nuôi dưỡng do chị T cũng đang đi làm ăn xa và các con đang sống cùng ông bà nội. Anh, chị không muốn cuộc sống của các con bị xáo trộn, để các con tiếp tục ổn định học tập. Xét nguyện vọng của các cháu Võ Quang K, cháu Võ Quang H, cháu Võ Thị Anh T2 xin được ở với bố và bà Nguyễn Thị D cũng đồng ý thay anh T1 chăm sóc các cháu cho đến khi anh T1 về nước. Anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Do đó, cần áp dụng các Điều 58, 81, 82 Luật hôn nhân gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giao con chung cháu Võ Quang K, cháu Võ Quang H, cháu Võ Thị Anh T2 cho anh Võ Quang T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[2.4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Võ Quang T1.
- Về con chung: Giao các con chung là Võ Quang K, sinh ngày: 22/3/2011; Võ Quang H, sinh ngày: 10/10/2012; Võ Thị Anh Thư sinh ngày 08/10/2014 cho anh Võ Quang T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 00002222 ngày 13/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình Nguyễn Thị T - Võ Quang T1
