Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-4-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tiến
  2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 497/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1984. (có mặt)

Nơi ĐKTT: 097/GCO, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Hà Văn L, sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: 097/GCO ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 10 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Bùi Thị D trình bày:

Bà và ông Hà Văn L kết hôn năm 2006, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L ngoại tình với người phụ nữ khác, không còn quan tâm đến gia đình; từ năm 2021 vợ chồng sống ly thân đến nay. Bà nhận thấy mâu thuẫn giữa bà và ông L đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: trong thời gian chung sống bà và ông L có 02 con chung là cháu Hà Thị Thanh N, sinh ngày 25/5/2004 và cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 09/7/2016. Hiện nay, cháu Thanh N đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Cẩm T đang sống cùng bà, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Cẩm T và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Hà Văn L vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện nghiêm quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử; vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị D đối với ông Hà Văn L. Về con chung, cháu Hà Thị Thanh N đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; đề nghị giao cháu Hà Thị Cẩm T cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng và ghi nhận bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: bị đơn ông Hà Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Hà Văn L.

[2] Về hôn nhân: bà Bùi Thị D và ông Hà Văn L kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 29 tháng 12 năm 2006 nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông L là hợp pháp.

Tại biên bản xác minh của Tòa án được đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin: trong thời gian chung sống bà D và ông L xảy ra mâu thuẫn về vấn đề gì thì địa phương không rõ, do đây là chuyện nội bộ gia đình.

Nhận thấy, trong thời gian chung sống bà D và ông L xảy ra mâu thuẫn do ông L ngoại tình với người phụ nữ khác, không quan tâm đến gia đình làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc, từ năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Trong thời gian sống ly thân bà D và ông L không gặp mặt, không liên lạc với nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập xét xử nhưng ông L vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án; từ đó thấy rằng ông L không có thiện chí hòa giải, hàn gắn hôn nhân với bà D. Bà D xác định không còn tình cảm với ông L nên yêu cầu ly hôn. Qua đó, thấy rằng mâu thuẫn giữa bà D và ông L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục nên bà D yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: cháu Hà Thị Thanh N đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 24/02/2025, cháu Hà Thị Cẩm T có nguyện vọng được sống cùng mẹ, sau khi cha, mẹ ly hôn; và bà D đồng ý nuôi dưỡng cháu Cẩm T. Nhận thấy, cháu Cẩm T đang sống cùng bà D, giao cháu Cẩm T cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Cẩm T và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: bà D trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng: bà D phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị D. Bà Bùi Thị D được ly hôn với ông Hà Văn L.
  2. Về con chung: cháu Hà Thị Thanh N, sinh ngày 25/5/2004 đã trưởng thành.

    Bà Bùi Thị D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 09/7/2016. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: bà D trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Bùi Thị D phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007171 ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cụ THADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Đức;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Phương Nhi

Hội thẩm nhân dân

Nguyễn Văn T1 – Huỳnh Thị Bích V

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương N1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger