Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HC-ST

Ngày: 24 - 3- 2025

V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành chính "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Huệ và ông Lê Hữu Tới

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên toà: Bà Hoàng Phương Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 24/3//2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 274/2024/TLST-HC ngày 14/10/2024 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HC ngày 14/02/2025 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐXXST-HC ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Hoàng Đình T, sinh năm 1966; Căn cước công dân số [...]. (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Đình T: Bà Dương Thị Ngọc B, sinh năm 1983; Căn cước công dân số [...]. Có mặt

Địa chỉ: Số A LK B, Khóm F, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 20/8/2024).

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành L - Chủ tịch UBND huyện T. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bùi Huy D - Phó Chủ tịch UBND huyện T. Có đơn xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Đường B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

3.1. Ủy ban nhân dân xã T, huyện T;

Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đình T1 - Chủ tịch UBND xã T. Người đại diện theo uỷ quyền: ông Đoàn Văn N - Phó chủ tịch UBND xã T. Có đơn xét xử vắng mặt.

3.2. Bà Lê Thị Hoài T2, sinh năm 1976;

Chỗ ở hiện tại: số G L, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xét xử vắng mặt.

3.3. Bà Lê Thị P - Trưởng phòng Tư pháp UBND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá; Có đơn xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Phòng Tư pháp UBND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 09/8/2024,Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 09/8/2024, Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, người khởi kiện ông Hoàng Đình T trình bày:

Ngày 05/7/2023 tôi trích lục bản sao giấy kết hôn số: 570/TLKH-BS do UBND xã T thì có thông tin số lưu hộ tịch giấy kết hôn số 13 ký ngày 09/7/1995 do Ủy ban nhân dân xã T huyện T tỉnh Thanh Hóa đăng ký có thông tin người vợ Lê Thị T2 sai sót theo giấy tờ nhân thân cha, mẹ, con là khai sinh ba con chung : Lê Thị Hoài T2 đã được cập nhật dữ liệu hộ tịch điện tửđăng ký khai sinh ba con chung và mối quan hệ nhân thân mẹ - con, chứng minh nhân dân cấp ngày 23/3/1993; khai sinh gốc Lê Thị Hoài T2 và dữ liệu hộ tịch điện tử đăng ký khai sinh, dữ liệu dân cư quốc gia. Tôi thực hiện thủ tục hành chính cải chính hộ tịch tại UBND huyện T qua Dịch Vụ Công huyện T. Căn cứ theo Quyết định số 3212/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của Chủ tịch UBND tỉnh T công bố danh mục thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung lĩnh vực hộ tịch thuộc thẩm quyền giải quyết cấp huyện, xã tại mã thủ tục cải chính hộ tịch: 20007.48000.000H56 cải chính trích lục kết hôn số 570/TLKH-BS ngày 05/7/2023 từ sổ lưu hộ tịch đăng ký kết hôn số 13 quyền số 01 ngày 09/7/1995 do xã T ghi chép, lưu trữ có thông tin người vợ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2 theo giấy tờ nhân thân cha, mẹ, con (khai sinh bản sao) Phòng Tư Pháp, UBND huyện T không trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cải chính hộ tịch là giấy trích lục kết hôn từ sổ hộ tịch kết hôn số 13 quyền số 01 ký ngày 09/7/1995 : Hoàng Đình T- Lê Thị T2 do xã T ghi chép, lưu trữ có thông tin người vợ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2 theo giấy tờ khai sinh gốc dữ liệu hộ tịch điện tử, dữ liệu dân cư quốc gia tên: Lê Thị Hoài T2; giấy tờ nhân thân: mẹ, con trong khai sinh ba con chung: Lê Thị Hoài T2. Phòng Tư Pháp huyện Triệu Sơn tiếp nhận, hướng dẫn công dân thực hiện thủ tục hành chính theo thủ tục hộ tịch khác: thay đổi hộ tịch là giấy khai sinh, mà dữ liệu

3

điện tử hộ tịch đăng ký khai sinh đã đúng tên Lê Thị Hoài T2. Do bà Lê Thị Hoài T2 có đơn bảo mật thông tin, đề nghị không cải chính hộ tịch giấy kết hôn để bà T2 đề nghị cấp, sử dụng đồng thời giấy hộ tịch khác trái pháp luật trong công chứng. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chưa kết hôn với ai. Ba lần tôi thực hiện thủ tục hành chính cổng Dịch Vụ Công huyện T8 và hai lần đối thoại tiếp công dân với chủ tịch UBND huyện T; 01 lần gửi đơn tố cáo về việc cải chính hộ tịch giấy trích lục kết hôn ( Công văn 71; Công văn 39; Công văn 60; Công văn 3491 hướng dẫn thủ tục Thay đổi hộ tịch, bổ sung Hộ tịch...theo Luật Dân sự: yêu cầu tôi phải có văn bản uỷ quyền của Lê Thị Hoài T2; phải có văn bản đồng ý của Lê Thị Hoài T2; phải có khai sinh, bằng cấp 2 của Lê Thị Hoài T2 được chứng thực bản sao... Bên cạnh đó sự kiện hộ tịch trên đã được cập nhật trên dữ liệu Hộ tịch Bộ Tư pháp ngày 05/7/2023, dữ liệu hộ tịch điện tử khai sinh, dữ liệu dân cư, dữ liệu về hộ tịch điện tử đăng ký khai sinh ba con chung có mối quan hệ mẹ, con: đều chính xác Lê Thị Hoài T2. Bản chất: Tôi và Lê Thị Hoài T2 kết hôn năm 1995, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo số 13/1995. Quyển số 01. Ký ngày 09/7/1995( Kèm trích lục kết hôn) bản chính Giấy kết hôn đúng thôngtin: chồng Hoàng Đình T; vợ Lê Thị Hoài T2 đã được sử dụng đăng ký khai sinh 03 con chung: sinh năm 1999; 2000; 2006; 03 giấy khai sinh con chung có đủ và đúng thông tin tên bố Hoàng Đình T – tên mẹ là: Lê Thị Hoài T2 (đăng ký khai sinh năm 1999 áp dụng khoản 1 Điều 19 Nghị Định 83/1998 ngày 10/10/1998, xuất trình và nộp giấy kết hôn khi đăng ký khai sinh trẻ có tên cha và mẹ ); Quê quán lấy theo bố (Hoàng Ngọc K đăng ký khai sinh tại phường L quận Đ TP Hà Nội, người đi khai sinh là Lê Thị Hoài T2 có quê quán ghi theo bố: xã T huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Hoàng Mai A và H đăng ký khai sinh tại UBND phường T có quê quán ghi theo bố là xã T, Thanh Hóa (kèm hộ khẩu Hoàng Đình T; Công văn 853). Người đi đăng ký khai sinh cho Hoàng Mai A là Hoàng Đình T; Người đi đăng ký khai sinh cho Hoàng A1 là bà Lê Thị Hoài T2 (kèm 3 khai sinh); không có Quyết định nhận cha con; Giấy CNQSDĐ tại nhà số I P phường T và số E C phường T TP T Tên Chồng là Hoàng Đình T, tên vợ là Lê Thị Hoài T2 (kèm giấy CNQSDĐ); các hợp đồng mua bán nhà đất ghi chồng: Hoàng Đình T; vợ Lê Thị Hoài T2 (kèm hợp đồng); nhưng do lý do cá nhân bà T2 cố ý gian dối nên bà Lê Thị Hoài T2 chiếm giữ bản gốc Giấy Đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm đơn bảo mật thông tin; ngăn chặn cải chính hộ tịch số kết hôn; cung cấp thông tin sai sự thật 12 lần để đề nghị cấp và sử dụng Giấy hộ tịch trái pháp luật để Công chứng tài sản riêng 09 quyền sử dụng đất “ Giấy Xác nhận tình trạng hôn nhân chưa kết hôn với ai, khi chưa có Quyết định Toà án về hôn nhân, con chung, tài sản chung đối với Lê Thị Hoài T2” đã bị thu hồi theo Quyết định 4463/QĐ-UBND ngày 31/7/2024 của Chủ tịch UBND huyện T. UBND huyện T cố ý không cải chính chính hộ tịch sổ kết hôn do ghi chép trong sổ hộ tịch giấy kết hôn sai sót so với giấy khai sinh gốc. Sổ hộ tịch Giấy Kết Hôn ghi sai thông tin thuộc quyền quản lý nhà nước của cơ quan huyện T, do cán bộ Tư P1 thuộc quản lý huyện T ghi chép nhưng đương sự liên quan sự kiện hộ tịch kết hôn: Lê Thị Hoài T2 quê quán T9 đang cung cấp, sử dụng thông tin hộ tịch sai sự thật liên quan đến sự kiện hộ tịch kết

4

hôn, nhân thân đồng thời điểm đang kết hôn có con chung và chưa kết hôn, có đơn ngăn chặn cải chính sổ hộ tịch giấy kết hôn để sử dụng giấy hộ tịch trái pháp luật khác do cán bộ cơ quan thuộc quản lý huyện T cấp trái pháp luật. Từ đó UBND huyện T hướng dẫn thủ tục cải chính hộ tịch sổ kết hôn số 13 ký ngày 09/7/1995 theo hướng thay đổi hộ tịch Giấy Khai Sinh Lê Thị Hoài T2 theo Luật Dân sự. “lưu ý khai sinh là giấy tờ gốc, đã đúng thông tin Lê Thị Hoài T2".

Vì vậy tôi yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết như sau:

1. Hủy một phần Công văn 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T v/v trả lời nội dung đơn của ông Hoàng Đình T, phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Huỷ mục 2.2 mục 2. Kết quả giải quyết của Công văn 3491. Hủy đoạn: “Đối với nội dung: Đề nghị thực hiện cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01 ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn Thành Lê Thị Hoài T2 Do phòng Tư Pháp huyện Triệu Sơn đã không tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của công dân Hoàng Đình T; Tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện T không thực hiện Việc cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyền số 01 ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2”.

2. Buộc UBND huyện T thực hiện cải chính thông tin hộ tịch trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2.

* Công văn số 4813 ngày 24/10/2024 của người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện T:

Sau khi nghiên cứu nội dung văn bản của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, UBND huyện T phúc đáp như sau: Ngày 15/4/2024 tại buổi tiếp công dân của Chủ tịch UBND huyện, ông Hoàng Đình T đã đến và phản ánh, kiến nghị 03 nội dung, trong đó có nội dung đề nghị thực hiện cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995) từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2. Ngày 08/5/2024, phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn đã ban hành Văn bản số 60/TP-HT trả lời đơn của ông Hoàng Đình T theo nội dung phản ánh kiến nghị tại buổi tiếp công dân ngày 15/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện. Ngày 06/8/2024, UBND huyện T đã có Văn bản số 3491/UBND TTr trả lời ông Hoàng Đình T, theo đó: Phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn đã không tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của ông Hoàng Đình T đề nghị thụ hiện cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995) từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2 là phù hợp và đúng quy định.

Từ cơ sở trên, UBND huyện T đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá tuyên giữ nguyên nội dung tại tiểu mục 2.2, Mục 2, Văn bản số 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T về việc trả lời nội dung đơn của ông Hoàng Đình T, phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

5

Tại Công văn Số: 896 /UBND-TT ngày 18/3/2025 của UBND huyện T:

Sau khi nghiên cứu nội dung yêu cầu của Tòa án. UBND huyện đã chỉ đạo các phòng liên quan, UBND xã T tiến hành kiểm tra, xác minh, rà soát hồ sơ liên quan, trên cơ sở kết quả rà soát, xác minh, căn cứ quy định của pháp luật, UBND huyện trả lời một số nội dung như sau:

1. Đối với nội dung: Đề nghị cung cấp bản sao các hồ sơ lưu trữ, giấy tờ có liên quan đến việc đăng ký kết hôn giữa ông Hoàng Đình T và bà Lê Thị T2 được ghi tại sổ đăng ký kết hôn quyển số 01/1995, số 13 ngày 09/7/1995 đang được lưu trữ tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa: Theo kết quả xác minh, UBND xã T không còn lưu hồ sơ, giấy tờ liên quan đến việc đăng ký kết hôn của ông Hoàng Đình T, hiện tại chỉ còn lưu trữ sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/1995, trong đó:

  • + Tại số thứ tự số 13 ngày 09/7/1995 có ghi chồng Hoàng Đình T, sinh tháng 10/1976; nghề nghiệp: xây dựng; nơi thường trú: N
  • + Vợ Lê Thị T2, sinh tháng 06/1976; nghề nghiệp: Giáo viên; nơi thường trú: T.
  • + Mục chữ ký của vợ, chồng không có chữ ký. (Có bản sao trang sổ lưu thông tin đăng ký kết hôn số 12 ngày 09/7/1995 gửi kèm).

2. Đối với nội dung: Đề nghị cung cấp tài liệu làm rõ, từ tháng 6/1976 đến ngày 09/7/1995 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có công dân nào là Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, sinh sống trên địa bàn xã và là người có tên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 hay không? Quan hệ nhân thân của bà Lê Thị Tấn ?

Qua phối hợp rà soát, tra cứu dữ liệu tại Công an xã T, hiện tại chỉ còn lưu sổ đăng ký quản lý nhân khẩu, hộ khẩu từ năm 2005 không thể hiện thông tin cư trú của công dân mang tên Lê Thị Tấn sinh tháng 6/1976 và L2 sinh ngày 05/6/1976. Đồng thời, kiểm tra hệ thống dữ liệu Quốc gia về dân cư: Không thể hiện thông tin cư trú của công dân Lê Thị Tấn sinh tháng 6/1976 và công dân Lê Thị Hoài T2 sinh ngày 05/6/1976 trên địa bàn xã T. Qua xác minh, thời điểm năm 1995 chưa có cán bộ chuyên trách Tư pháp mà chỉ có bộ phận Công an xã theo dõi, tổng hợp; hiện tại không xác định đượcngười tổng hợp và ghi sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn. UBND xã T không còn lưu trữ về hồ sơ, giấy tờ của các cá nhân đến đăng ký kết hôn, trong sổ đăng ký kết hôn không thể hiện thông tin giấy tờ tùy thân, không có chữ ký của ông Hoàng Đình T và bà Lê Thị Tấn . Vì vậy, UBND huyện không có cơ sở để xác định được nhân thân của bà Lê Thị T2 theo yêu cầu của Tòa án.

3. Đối với nội dung: Đề nghị làm rõ Công dân Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tên trong đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 lưu tại UBND xã T là ai?”

6

Do hồ sơ lưu trữ tại UBND xã T không còn và sổ đăng ký kết hôn đang lưu tại UBND xã T không thể hiện về nhân thân của bà Lê Thị Tấn . Đồng thời, tra cứu cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do công an xã T quản lý không có thông tin của công dân Lê Thị Tấn . Vì vậy, UBND huyện T không có căn cứ, cơ sở để xác định công dân Lê Thị T2, người có tên trong sổ đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T là ai theo yêu cầu của Tòa án.

4. Đối với nội dung: Đề nghị làm rõ Công dân Lê Thị Hoài T2, sinh ngày 05/6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và LêThị Tấn, sinh tháng 6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tên trong đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 lưu tại UBND xã T có phải là một người không?”. Qua kiểm tra, xác minh, làm việc với UBND xã T và Công an xã T, không tìm thấy hồ sơ, giấy tờ lưu về nhân thân của 02 công dân có tên trên. Đồng thời, trong sổ lưu cấp giấy chứng nhận kết hôn không có ghi thông tin giấy tờ tùy thân, không có chữ ký của bà Lê Thị Hoài T2. Do đó, UBND huyện T không có cơ sở để xác định bà Lê Thị T2 và Lê Thị Hoài T2 có phải là một người hay không?

5. Đối với nội dung: “Trong trường hợp không có công dân nào là Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, nghề nghiệp giáo viên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T, được ghi tại sổ đăng ký kết hôn quyển số 01/1995, số 13 ngày 09/7/1995 đang được lưu trữ tại UBND xã T thì ý kiến của UBND huyện T về nội dung này như thế nào?”.

Do thời gian diễn ra sự việc từ năm 1995, qua kiểm tra, xác minh với UBND xã T, Công an xã T và các thành phần liên quan đều không biết về vụ việc, hồ sơ không còn lưu trữ, sổ lưu về đăng ký quản lý nhân khẩu, hộ khẩu chỉ còn lưu được từ năm 2005, cơ sở dữ liệu dân cư không có thông tin cư trú, trong sổ cấp chứng nhận kết hôn phần chữ ký của vợ, chồng không có chữ ký. Do đó không xác định được người đến đăng ký kết hôn là ai theo yêu cầu trả lời của Toà án nhân dân tỉnh.

Căn cứ vào các hồ sơ, tài liệu, kết quả kiểm tra, xác minh và căn cứ quy định pháp luật, UBND huyện T đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn tại Công văn 146/TP-TH ngày 17/10/2024

Sau khi nghiên cứu công văn của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn có ý kiến như sau: Ngày 15/4/2024 tại buổi tiếp công dân của Chủ tịch UBND huyện, ông Hoàng Đình T đã đến và phản ánh, kiến nghị 03 nội dung, trong đó có nội dung đề nghị thực hiện cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2. Ngày 17/4/2024, UBND huyện đã có Thông báo số 149/TB-UBND ngày 17/4/2024 về tình hình tiếp công dân ngày 15/4/2024, theo đó: Giao phòng Tư pháp chủ trì phối hợp với UBND xã T

7

và các đơn vị có liên quan, kiểm tra, xác minh và căn cứ các quy định của pháp luật, tham mưu văn bản trả lời ông Hoàng Đình T theo quy định. Ngày 08/5/2024, phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn đã ban hành Văn bản số 60/TP-HT trả lời đơn của ông Hoàng Đình T theo nội dung phản ánh, kiến nghị tại buổi tiếp công dân ngày 15/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện. Sau khi phòng Tư pháp có văn bản trả lời, ông Hoàng Đình T tiếp tục có đơn gửi đến Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch UBND huyện. Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện, ngày 31/7/2024, Thanh tra huyện chủ trì phối hợp với phòng Tư pháp tổ chức làm việc với ông Hoàng Đình T để làm rõ và thống nhất nội dung đơn ông gửi đến Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện ngày 24/7/2024. Tại buổi làm việc, ông Hoàng Đình T thống nhất và đề nghị UBND huyện xem xét, giải quyết đối với 02 nội dung như sau:

1. Đề nghị thu hồi hủy bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 19/2017/UBND-XNTTHN ngày 10/4/2017 do UBND xã T, huyện T đã cấp cho bà Lê Thị Hoài T2. 2. Đề nghị thực hiện cải chính thông tin hộ tịch của người Vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995) từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2. Căn cứ kết quả xác minh và kết quả làm việc với công dân, căn cứ các quy định của pháp luật, ngày 06/8/2024 UBND huyện T đã có Văn bản số 3491/UBND-TTr trả lời ông Hoàng Đình T, theo đó tại tiểu mục 2.2, mục 2 nêu rõ: Căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 7, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch. Quá trình tiếp nhận hồ sơ trực tuyến tại Bộ phận một cửa của UBND huyện, thể hiện ông Hoàng Đình T đã uỷ quyền và nộp TTHC trực tuyến, sau khi tiếp nhận hồ sơ phòng Tư pháp đều đã có các văn bản trả lời ông T về việc hồ sơ ông nộp không đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn tiếp nhận giải quyết thủ tục theo quy định. Mặt khác, trong thời gian qua phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn nhận được đơn đề nghị khẩn cấp của công dân Lê Thị Hoài T2 có nội dung tố cáo các đối tượng làm giả chữ ký của bà trong các văn bản ủy quyền và bà T2 đã có đơn đề nghị "không thực hiện đính chính, cải chính hộ tịch, hồ sơ thông tin cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư của bà Lê Thị Hoài T2 và các con của bà T2 khi chưa được sự đồng ý của bà T2 bằng văn bản và có liên hệ trực tiếp yêu cầu". Do đó phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn đã không tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của ông HoàngĐình T là phù hợp và đúng quy định.

Từ cơ sở trên phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn có ý kiến như sau: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá tuyên giữ nguyên nội dung tại tiểu mục 2.2, mục 2 của Văn bản số 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T về việc trả lời nội dung đơn của ông Hoàng Đình T, phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

8

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã T tại Công văn 72/UBND -CV ngày 10/3/2025:

Ngày 05/03/2025, UBND xã T nhận được công văn số 1488/CV-HC của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc cung cấp tài liệu và ý kiến đối vụ việc đang thụ lý giải quyết. Theo đó, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị U cung cấp một số tài liệu và có ý kiến đối với vụ việc khởi kiện hành chính mà người khởi kiện là ông Hoàng Đình T. Sau khi nghiên cứu nội dung yêu cầu của Tòa án. UBND xã T đã tiến hành thành lập tổ xác minh, rà soát hồ sơ liên quan, trên cơ sở kết quả rà soát, xác minh UBND xã T trả lời một số nội dung như sau:

1. Về yêu cầu cung cấp bản sao các hồ sơ lưu trữ, giấy tờ có liên quan đến việc đăng ký kết hôn giữa ông Hoàng Đình T và bà Lê Thị T2 được ghi tại số đăng ký kết hôn quyển số 01/1995, số 13 ngày 09/7/1995 đang được lưu trữ tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa: Theo kết quả xác minh, hiện nay tại UBND xã T không còn lưu hồ sơ, giấy tờ liên quan đến việc đăng ký kết hôn của ông Hoàng Đình T, hiện tại chỉ còn lưu trữ số cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/1995:

  • + Tại số thứ tự số 13 ngày 09/7/1995 có ghi chồng Hoàng Đình T, sinh tháng 10/1966; nghề nghiệp: xây dựng; nơi thường trú: N
  • + Vợ Lê Thị T2, sinh tháng 06/1976; nghề nghiệp: Giáo viên; nơi thường trú: T.
  • + Mục chữ ký của vợ, chồng không có chữ ký. (Gửi kèm theo công văn này bản sao trang sổ có lưu thông tin đăng ký kết hôn số 13 ngày 09/7/1995).

2. Về yêu cầu cung cấp tài liệu làm rõ, từ tháng 6/1976 đến ngày 09/7/1995 tại xã T, T, tỉnh Thanh Hóa có công dân nào là Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, sinh sống trên địa bàn xã và là người có tên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 hay không? Quan hệ nhân thân của bà Lê Thị Tấn ?

Qua phối hợp rà soát, tra cứu dữ liệu tại Công an xã T, hiện tại chỉ còn lưu sổ đăng ký quản lý nhân khẩu, hộ khẩu từ năm 2005 không thể hiện thông tin cư trú của công dân mang tên Lê Thị Tấn sinh tháng 6/1976 và Lê Thị Hoài T2 sinh ngày 05/6/1976. Đồng thời, kiểm tra hệ thống dữ liệu Quốc gia về dân cư: Không thể hiện thông tin cư trú của công dân Lê Thị Tấn sinh tháng 6/1976 và công dân Lê Thị Hoài T2 sinh ngày 05/6/1976 trên địa bàn xã T. Qua xác minh, thời điểm năm 1995 chưa có cán bộ chuyên trách Tư pháp mà chỉ có bộ phận Công an xã theo dõi, tổng hợp; hiện tại không xác định được người tổng hợp và ghi sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn vì trên hồ sơ không có chữ ký của người tổng hợp. Đồng thời, không còn lưu trữ về hồ sơ, giấy tờ của các cá nhân đến đăng ký kết hôn, trong sổ đăng ký kết hôn không thể hiện thông tin giấy tờ tùy thân, không có chữ ký của ông Hoàng Đình T và bà Lê Thị Tấn . Vì vậy, UBND xã không có cơ sở để xác định được nhân thân của bà Lê Thị T2 theo yêu cầu của Tòa án.

3. Về yêu cầu trả lời “Công dân Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tên trong tên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 lưu tại UBND xã T là ai?" Do hồ sơ lưu trữ không còn và

9

sổ đăng ký kết hôn đang lưu tại UBND xã T không thể hiện về nhân thân của bà Lê Thị Tấn . Đồng thời, tra cứu cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do công an xã T quản lý không có thông tin của công dân Lê Thị Hoài T2. Vì vậy, U không có căn cứ, cơ sở để xác định công dân Lê Thị T2, người có tên trong sổ đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T là ai theo yêu cầu của Tòa án.

4. Về yêu cầu trả lời: “Công dân Lê Thị Hoài T2, sinh ngày 5/6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tên trong tên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 luru tại UBND xã T có phải là một người không?”.

Về nguyên tắc, việc xác định Công dân Lê Thị Hoài T2, sinh ngày 5/6/1976, quê quán xã T, T, tỉnh Thanh Hóa và Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tên trong tên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 lưu tại UBND xã T có phải là một người hay không phải dựa trên hồ sơ về nhân thân của 02 người. Tuy nhiên, qua quá trình xác minh làm việc với Công an xã T, UBND xã không tìm thấy hồ sơ, giấy tờ lưu về nhân thân của 02 công dân có tên trên. Đồng thời, trong sổ lưu cấp giấy chứng nhận kết hôn không có ghi thông tin giấy tờ tùy thân, không có chữ ký của bà Lê Thị Tấn . Do đó, U không có cơ sở để xác định bà Lê Thị T2 và Lê Thị Hoài T2 có phải là một người hay không?

5. Về yêu cầu trả lời: “Trong trường hợp không có công dân nào là Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, nghề nghiệp giáo viên đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T, được ghi tại sổ đăng ký kết hôn quyển số 01/1995, số 13 ngày 09/7/1995 đang được lưu trữ tại UBND xã T thì ý kiến của U về nội dung này như thế nào?”.

Do thời gian sự kiện diễn ra từ năm 1995, các ý kiến của những người làm việc thời điểm đó đều không biết về vụ việc, hồ sơ không còn lưu trữ, sổ lưu về đăng ký quản lý nhân khẩu, hộ khẩu chỉ còn lưu được từ năm 2005, cơ sở dữ liệu dân cư không có thông tin cư trú, trong sổ cấp chứng nhận kết hôn phần chữ ký của vợ, chồng không có chữ ký, nên không xác định được người đến đăng ký kết hôn là ai theo yêu cầu trả lời của Toà án nhân dân tỉnh.

Từ các tài liệu chứng cứ như trên, UBND xã đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hoài T2 trình bày:

Tôi đã nhận được Thông báo của Toà án Nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc Hoàng Đình T Nguyên đơn và Dương Thị Ngọc B nhận uỷ quyền khiếu kiện Quyết định hành chính của UBND huyện T.

Kính thưa quý Toà! Tôi tên là Lê Thị Hoài T2. Bằng cấp học hành, giấy tờ tuỳ thân hợp pháp của tôi đều mang tên họ như vậy. Tôi chưa từng đăng ký kết hôn với ai, hiện sống độc thân. Tôi không có nhu cầu thay đổi cải chính tên, họ của mình và cũng không có uỷ quyền cho ai đi cải chính thông tin cá nhân của tôi. UBND huyện T từ chối tiếp nhận, từ chối giải quyết yêu cầu của Dương Thị Ngọc B, Hoàng Đình T xin cải chính hộ tịch không phải của họ là đúng pháp luật.

10

UBND huyện T đã làm tốt chức trách của mình, không xâm hại tới quyền và lợi ích chính đáng của tôi nên tôi đồng ý với các quyết định hành chính đó.

* Tại phiên tòa:

  • - Người khởi kiện ông Hoàng Đình T có mặt tại phiên Toà giữ nguyên nội dung khởi kiện; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Đình T: Bà Dương Thị Ngọc B có mặt tại phiên Toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T.
  • - Người bị kiện, và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc đưa ra xét xử vụ án nhưng họ đều có đơn xin xét xử vắng mặt họ. Tại các Văn bản trả lời nêu trên họ đều không đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án, tổ chức đối thoại, ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến tại phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành việc triệu tập và có mặt tại phiên tòa và có đơn vắng mặt tịa phiên Toà theo đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T về nội dung huỷ Công văn số 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T ban hành do vi phạm thẩm quyền ký Văn bản.
  • - Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T về nội dung: Buộc UBND huyện T thực hiện cải chính thông tin hộ tịch trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2 theo giấy tờ nhân thân cha, mẹ, con đã cung cấp (bản sao Giấy khai sinh ) khi thực hiện thủ tục hành chính cải chính thông tin hộ tịch Giấy kết hôn, không căn cứ văn bản đồng ý và uỷ quyền bà Lê Thị Hoài T2.

Về án phí: ông T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật. UBND huyện T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên và các bên đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng:

- Về quyền khởi kiện: Ông Hoàng Đình T khởi kiện huỷ một phần công văn trả lời đơn của UBND huyện T và hành vi hành chính không thực hiện cải chính

11

thông tin hộ tịch giấy kết hôn của UBND huyện T. Ông T cho rằng, công văn 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T và hành vi hành chính nêu trên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ông có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Luật tố tụng hành chính 2015.

- Về đối tượng, thẩm quyền và thời hiệu giải quyết vụ án:

+ Về thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án: Công văn 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T ban hành trong lĩnh vực quản lý hành chính là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 điều 30, khoản 4 điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015.

+ Về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính: Công văn 3491/UBND – TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T bị kiện trong thời hạn 1 năm, do đó thời hiệu khởi kiện đảm bảo theo khoản 2, 4 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

1.3. Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện UBND huyện T, đại diện UBND xã T, Trưởng phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn, bà Lê Thị Hoài T2 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 157, Điều 158 Luật tố tụng hành chính, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T

2.1. Xét yêu cầu huỷ một phần Công văn số 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T về việc trả lời đơn của ông Hoàng Đình T (công văn do Phó Chánh Văn phòng UBND huyện T ký):

Ông Hoàng Đình T tố cáo bà Lê Thị P, Trưởng phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn thông đồng với bà Lê Thị Hoài T2 thành viên Đoàn luật sư tỉnh T cấp giấy hộ tịch trái pháp luật dù thanh tra sai phạm, tham mưu Chủ tịch UBND huyện không thu hồi, giúp sức chiếm đoạt tài sản 40 tỷ, cản trở thực hiện đăng ký hộ tịch, cản trở nghĩa vụ cải chính hộ tịch giấy kết hôn nhằm mục đích trục lợi.

Ngày 31/7/2024, Thanh tra huyện chủ trì phối hợp với phòng Tư pháp tổ chức làm việc với ông Hoàng Đình T để làm rõ và thống nhất nội dung đơn ông gửi đến Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện ngày 24/7/2024. Qua làm việc, ông Hoàng Đình T thống nhất và đề nghị UBND huyện xem xét, giải quyết đối với 02 nội dung như sau:

  1. Đề nghị thu hồi hủy bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 19/2017/UBND-XNTTHN ngày 10/4/2017 do UBND xã T, huyện T đã cấp cho bà Lê Thị Hoài T2.
  2. Đề nghị thực hiện cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2.

Kết quả giải quyết:

12

- Đối với nội dung: Đề nghị thu hồi hủy bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 19/2017/UBND-XNTTHN ngày 10/4/2017 do UBND xã T đã cấp cho bà Lê Thị Hoài T2.

Ngày 31/7/2024, UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 4463/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 19/2017/UBND-XNTTHN ngày 10/4/2017 Go UBND xã T đã cấp cho công dân Lê Thị Hoài T2, theo đó: Tại Điều 2 của Quyết định ghi “Giao UBND xã T triển khai thực hiện thu hồi, hủy bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà Lê Thị Hoài T2 đồng thời ghi chú nội dung về việc thu hồi hủy bỏ trong số cấp Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân do UBND xã đang lưu trữ”.

- Đối với nội dung: Đề nghị thực hiện cải chính thông tin hộ tịch của người vợ trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2.

Căn cứ Điều 46 Luật Hộ tịch thì thẩm quyền cải chính hộ tịch cho người Việt Nam từ 14 tuổi trở lên thuộc UBND cấp huyện, căn cứ quy định tại Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch quy định:

  1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.
  2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Ngày 08/5/2024, phòng Tư pháp đã có Văn bản số 60/TP-HT về việc trả lời ông Hoàng Đình T, theo đó: Qua nhiều lần ông Hoàng Đình T nộp hồ sơ, phòng Tư pháp đều đã có các văn bản trả lời ông T về việc hồ sơ ông nộp không đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn tiếp nhận giải quyết thủ tục theo quy định. Mặt khác, trong thời gian qua phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn nhận được đơn đề nghị khẩn cấp của công dân Lê Thị Hoài T2 có nội dung tố cáo các đối tượng làm giả chữ ký của bà trong các văn bản ủy quyền và bà T2 đã có đơn đề nghị “không thực hiện đính chính, cải chính hộ tịch, hồ sơ thông tin cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư của bà Lê Thị Hoài T2 và các con của bà T2 khi chưa được sự đồng ý của bà T2 bằng văn bản và có liên hệ trực tiếp yêu cầu”. Do đó phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn đã không tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của ông Hoàng Đình T là phù hợp và đúng quy định.

Sau khi nhận được đơn tố cáo của ông Hoàng Đình T ngày 24/7/2024, Chủ tịch UBND huyện T giao Thanh tra huyện chủ trì phối hợp với Phòng Tư pháp huyện tham mưu xem xét, giải quyết, trả lời công dân và báo cáo Chủ tịch UBND huyện theo quy định.

13

- Về thẩm quyền ban hành Công văn 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T:

Ban đầu ông Hoàng Đình T tố cáo hành vi hành chính của Trưởng phòng Tư pháp UBND huyện T, sau đó khi làm việc với Đoàn xác minh do Thanh tra chủ trì, ông Hoàng Đình T đã sửa lại nội dung tố cáo thành “khiếu nại và đề nghị”. Do đó, thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định tại Điều 17, 18 Luật khiếu nại 2011; khoản 8 Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 là Chủ tịch UBND huyện.

Như vậy, thẩm quyền giải quyết đối với khiếu nại của ông Hoàng Đình T phải là Chủ tịch UBND huyện T. Tuy nhiên, Công văn 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T ban hành, người ký là Phó Chánh Văn phòng ký thừa lệnh Chủ tịch, ký thay Chánh văn phòng là vi phạm thẩm quyền ký quyết định hành chính về giải quyết khiếu nại.

Do đó, có căn cứ huỷ Công văn số 3491/UBND-Ttra ngày 06/8/2024 của UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá do vi phạm thẩm quyền ký .

2.2. Xét yêu cầu Buộc UBND huyện T thực hiện cải chính thông tin hộ tịch trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2:

Qua nhiều lần ông Hoàng Đình T nộp hồ sơ đề nghị Phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn thực hiện Cải chính hộ tịch trong Giấy chứng nhận kết hôn từ Lê Thị T2 sang L. Phòng Tư pháp đều đã có các văn bản trả lời ông T về việc hồ sơ ông nộp không đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn tiếp nhận giải quyết thủ tục theo quy định (Phòng Tư pháp huyện đã có các Văn bản trả lời ông Hoàng Đình T: Văn bản số 71/TP-HT ngày 05/8/2023; Văn bản số 39/TP-HT ngày 04/4/2024; Văn bản số 60/TP-HT ngày 08/5/2024).

Về hồ sơ của ông Hoàng Đình T nộp tại UBND huyện T:

+ Hồ sơ công dân nộp thể hiện người nộp hồ sơ là ông Hoàng Đình T yêu cầu cải chính thông tin hộ tịch cho bà Lê Thị Hoài T2 trong giấy đăng ký kết hôn số 13/1995 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T. Tuy nhiên, thành phần hồ sơ không có Giấy uỷ quyền của bà Lê Thị Hoài T2 uỷ quyền cho ông Hoàng Đình T nộp hồ sơ yêu cầu. Người yêu cầu mới chỉ cung cấp được trích lục kết hôn (bản sao); 03 Bản sao giấy khai sinh của các con ghi tên bố là Hoàng Đình T, mẹ là Lê Thị Hoài T2 ; bản sao chụp các loại giấy tờ: Hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân (các loại giấy tờ này đều là bản sao chụp không có chứng thực bản sao và thời điểm đều cấp sau thời điểm đăng ký kết hôn (bản sao Trích lục kết hôn). Vì vậy, không có cơ sở để Phòng Tư pháp xem xét giải quyết theo yêu cầu. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Đình T cũng không cung cấp thêm được các tài liệu chứng gì khác so với các tài liệu nêu trên.

Mặt khác, trong thời gian qua phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn nhận được đơn đề nghị khẩn cấp của công dân Lê Thị Hoài T2 có nội dung tố cáo các đối tượng làm giả chữ ký của bà trong các văn bản ủy quyền và bà T2 đã có đơn đề nghị “không thực hiện đính chính, cải chính hộ tịch, hồ sơ thông tin cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư của bà Lê Thị Hoài T2 và các con của bà T2 khi

14

chưa được sự đồng ý của bà T2 bằng văn bản và có liên hệ trực tiếp yêu cầu”. Do đó phòng Tư pháp huyện Triệu Sơn đã không tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của ông Hoàng Đình T.

Ngày 03/3/2025 TAND tỉnh Thanh Hoá đã có văn bản yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ đối với UBND huyện T và UBND xã T, kết quả trả lời như sau:

UBND xã T không còn lưu hồ sơ, giấy tờ liên quan đến việc đăng ký kết hôn của ông Hoàng Đình T, hiện tại chỉ còn lưu trữ sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/1995, trong đó:

  • + Tại số thứ tự số 13 ngày 09/7/1995 có ghi chồng Hoàng Đình T, sinh tháng 10/1976; nghề nghiệp: xây dựng; nơi thường trú: N
  • + Vợ Lê Thị T2, sinh tháng 06/1976; nghề nghiệp: Giáo viên; nơi thường trú: T.
  • + Mục chữ ký của vợ, chồng không có chữ ký.

Rà soát, tra cứu dữ liệu tại Công an xã T, hiện tại chỉ còn lưu sổ đăng ký quản lý nhân khẩu, hộ khẩu từ năm 2005 không thể hiện thông tin cư trú của công dân mang tên Lê Thị Tấn sinh tháng 6/1976 và Lê Thị Hoài T2 sinh ngày 05/6/1976. Đồng thời, kiểm tra hệ thống dữ liệu Quốc gia về dân cư: Không thể hiện thông tin cư trú của công dân Lê Thị Tấn sinh tháng 6/1976 và công dân Lê Thị Hoài T2 sinh ngày 05/6/1976 trên địa bàn xã T.

Do thời điểm năm 1995 chưa có cán bộ chuyên trách Tư pháp mà chỉ có bộ phận Công an xã theo dõi, tổng hợp; hiện tại không xác định được người tổng hợp và ghi sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn. UBND xã T không còn lưu trữ về hồ sơ, giấy tờ của các cá nhân đến đăng ký kết hôn, trong sổ đăng ký kết hôn không thể hiện thông tin giấy tờ tùy thân, không có chữ ký của ông Hoàng Đình T và bà Lê Thị Tấn . Vì vậy, không có cơ sở để xác định được nhân thân của bà Lê Thị Tấn .

Do hồ sơ lưu trữ tại UBND xã T không còn và sổ đăng ký kết hôn đang lưu tại UBND xã T không thể hiện về nhân thân của bà Lê Thị Tấn . Đồng thời, tra cứu cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do công an xã T quản lý không có thông tin của công dân Lê Thị Tấn . Vì vậy, UBND huyện T không có căn cứ, cơ sở để xác định công dân Lê Thị T2, người có tên trong số đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T là ai và không có căn cứ để kết luận công dân Lê Thị Hoài T2, sinh ngày 05/6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Lê Thị T2, sinh tháng 6/1976, quê quán xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có tên trong đăng ký kết hôn với ông Hoàng Đình T vào ngày 09/7/1995 lưu tại UBND xã T có phải là một người.

Tài liệu bà Lê Thị Hoài T2 cung cấp đều mang tên: Lê Thị Hoài T2 .Lời trình bày của bà Lê Thị Hoài T2 trong hồ sơ vụ án thể hiện: “Bằng cấp học hành, giấy tờ tuỳ thân hợp pháp của tôi đều mang tên họ như vậy. Tôi chưa từng đăng ký kết hôn với ai, hiện sống độc thân. Tôi không có nhu cầu thay đổi cải chính

15

tên, họ của mình và cũng không có uỷ quyền cho ai đi cải chính thông tin cá nhân của tôi.....”

Như vậy, việc ông Hoàng Đình T nộp hồ sơ đề nghị cải chính thông tin hộ tịch trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn từ Lê Thị T2 sang L khi không được bà Lê Thị Hoài T2 uỷ quyền và không có văn bản đồng ý của bà Lê Thị Hoài T2 là không đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2025 hướng dẫn một số điều của Luật Hộ Tịch. Qua tài liệu do UBND huyện T và UBND xã T, huyện T cung cấp thì không đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch theo qquy định tại khoản 2 Điều quy định Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2025 hướng dẫn một số điều của Luật Hộ Tịch. Do đó, UBND huyện T không tiếp nhận hồ sơ và giải quyết yêu cầu của ông Hoàng Đình T là đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, tại khoản 1 Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, quy định: “Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác."

Từ những nội dung nêu trên, Căn cứ quy định Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2025 hướng dẫn một số điều của Luật Hộ Tịch( đã trích dẫn nêu trên); khoản 1 Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch không có căn cứ chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện này của ông Hoàng Đình T.

[3] Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận một phần, nên không phải phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm được trả lại cho ông T theo quy định pháp luật.

UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 204; Khoản 1 Điều 206; Khoản 3 Điều 345; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính. Điều 17, 18 Luật khiếu nại 2011; khoản 8 Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015; Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2025 hướng dẫn một số điều của Luật Hộ Tịch; Khoản 1 Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-

16

CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch

* Xử:

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T về nội dung huỷ Công văn số 3491/UBND-TTr ngày 06/8/2024 của UBND huyện T do vi phạm thẩm quyền ký Văn bản.

1.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đình T về nội dung: Buộc UBND huyện T thực hiện cải chính thông tin hộ tịch trong Sổ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01, ngày 09/7/1995 từ Lê Thị Tấn thành Lê Thị Hoài T2.

[2].Về án phí: Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Ông Hoàng Đình T không phải nộp án phí hành chính sơ thẩm theo quy định. Trả lại cho ông Hoàng Đình T 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm, ông T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòasố 0000590 ngày 14/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

+ UBND huyện T phải nộp 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • -VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • -Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • -Đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trường Du

17

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 26 tháng 6 năm 2024;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh L1

Ông Nguyễn Quốc N1

Tiến hành nghị án vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 54/2023/TLST-HC ngày 06/6/2023 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HC ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Lê Thị S, sinh năm 1966; có mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị S: Luật sư Lê Thị T3, Luật sư Bùi Thị T4 sư Nguyễn Thị Linh C, bà Cù Thị Thanh H1 - Công ty L3.

Địa chỉ: Số B D, phường Đ, N, Thànhphố H.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

18

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T5 - Chủ tịch UBND thành phố.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc B1 - Phó Chủ tịch UBND thành phố; vắng mặt.

Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H2 - Trưởng PhòngTNMT thành phố; có mặt.

Địa chỉ: Số G, đường T, phường T, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. UBND tỉnh T.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T6 - Chủ tịch UBND tỉnh; vắng mặt.

Địa chỉ: C Đ, phường L, thànhphố T, tỉnh Thanh Hóa.

3.2. Chi cục thuế khu vực thànhphố S - Q.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bá H3 - Chi cục trưởng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T7 - Phó Độitrưởng; vắng mặt.

Địa chỉ: B đường L, phường T, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.

3.3. UBND phường Q, thành phố S.

Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Q, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.

- Căn cứ Điều 191 Luật tố tụng hành chính;

- Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; Khoản 1 Điều 206; Khoản 3 Điều 345; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính. Điều 74, Điều 108 Luật Đất đai năm 2013. Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Biểu quyết: Thống nhất 3/3

* Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S về việc yêu cầu:

- Hủy Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch kđịnh cư Đ.

- Hủy một phần Quyết định số 4260/QĐ-UBND ngày 30/7/2022 của U đối với bà Lê Thị S, nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng

19

đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khuĐồng Hón, phường Q, thành phố S” và đề nghị UBND thànhphố Sầm Sơn thay nội dung này bằng “Quyết định số 6420/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu T, phường Q, thành phố S"

- Buộc người bị kiện là UBND thành phố S phải ra quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục T10 - Q phải thực hiện hoàn trả cho người khởi kiện khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019 (số tiền yêu cầu hoàn trả là 350.000.000₫).

- Buộc người bị kiện thanh toán các khoản thiệt hại cho người khởi kiện (theo khoản 4 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017).

- Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho gia đình bà Lê Thị S là trái quy định của pháp luật. Buộc UBND thành phố S bồi thường các thiệt hại phát sinh từ hành vi hành chính trái quy định pháp luật. Mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền đã nộp chênh lệch tính từ ngày 06/9/2022 (ngày nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách) đến ngày 26/6/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) số tiền 64.069.444₫.

Biểu quyết: Thống nhất 3/3

2. Về án phí: Bà S phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà S nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòaán số AA/2022/0000455 ngày 23/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Biểu quyết: Thống nhất 3/3

* Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bảnhoặc Bảnniêm yết theo quy định của pháp luật.

Biểu quyết: Thống nhất 3/3

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Danh Lơi Nguyễn Quốc Nông

Lê Thị Hiệu

20

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HC-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 35/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger