Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/DS-ST

Ngày: 30-6-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thúc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Toán và ông Lê Hồng Tâm.

Thư ký phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc- Thư ký Toà án nhân dân huyện P, thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Loan- Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 09/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1. Địa chỉ trụ sở chính: A T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B, chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP C1.

Người đại diện theo ủy quyền:

  • Bà Trần Thị Tâm T- Giám đốc; bà Nguyễn Ái Khánh U, ông Trần Quốc K, ông Nguyễn Văn H- Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C1, chi nhánh N2. (Theo văn bản ủy quyền số 140/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 31/01/2024);
  • Ông Trần Anh P; ông Trần Ngọc T1; ông Phạm Văn C; ông Trần Hoài N; bà Bùi Thị Ngọc T2; ông Nguyễn Việt D; ông Trần Việt D1; ông Hồ Lê T3 - Cán bộ Ngân hàng TMCP C1, chi nhánh N2 (Theo văn bản ủy quyền số 140/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 31/01/2024);
  • Ông Nguyễn Tất Lê N1 (có mặt); ông Ngô Quang V (có mặt); ông Nguyễn Văn L; bà Trần Thị Thanh M (có mặt)- Cán bộ Ngân hàng TMCP C1, chi nhánh N2 (Theo văn bản ủy quyền số 281/UQ-CNNTTH-TCTH ngày 25/6/2024).

Bị đơn: Ông Lê Thái S, sinh năm 2003. Nơi thường trú: Xóm C, thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Địa chỉ tạm trú: Lô C, D, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ông Lê Thái S và Ngân hàng TMCP C1 đã ký kết các Hợp đồng cho vay số 07/2023-HĐCV/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023; Hợp đồng cho vay số 1909/2023-HĐCV/HCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 11/7/2023; với tổng số tiền vay 4.350.000.000 đồng; mục đích vay tiền để thanh toán chi phí nhận các quyền sử dụng đất và tiêu dùng cá nhân. Tổng nợ của các Hợp đồng vày Giấy đề nghị phát hành thẻ tính đến ngày 30/6/2025 là 5.000.160.363 đồng trong đó, nợ gốc là 4.282.518.184 đồng, nợ lãi, phí là 717.642.179 đồng (lãi trên nợ gốc trong hạn là 645.649.439 đồng, lãi quá hạn gốc 21.450.783 đồng và lãi chậm trả lãi là 47.780.263 đồng và phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng).

Để đảm bảo khoản vay và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, ông Lê Thái S đã ký kết các Hợp đồng thế chấp, gồm:

  • Hợp đồng thế chấp bất động sản số 07/2023/HĐBĐ/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023 thế chấp quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 340, tờ bản đồ số 7 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 397369 do Sở TNMT tỉnh T cấp ngày 11/4/2023, sổ vào sổ cấp CS 07026;
  • Hợp đồng thế chấp bất động sản số 88/2023/HĐBĐ/NHCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023 thế chấp quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 341, tờ bản đồ số 7 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 397370 do Sở TNMT tỉnh T cấp ngày 11/4/2023, sổ vào sổ cấp CS 07027;
  • Hợp đồng thế chấp bất động sản số 99/2023/HĐBĐ/NHCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023 thế chấp quyền sử dụng đất tại Lô C, khu đô thị M, xã P, huyện P, thành phố H, thửa đất số 649, tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 263188 do Sở TNMT tỉnh T cấp ngày 13/11/2018, sổ vào sổ cấp CS 01192.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lê Thái S đã không thanh toán đủ cho Ngân hàng, tất cả các khoản vay đều chuyển qua nợ quá hạn từ ngày 26/02/2024. Ngân hàng cũng đã làm việc với ông S nhiều lần với nhiều hình thức về việc thông báo nợ đến hạn, nợ quá hạn và bàn biện pháp trả nợ nhưng đến nay ông Lê Thái S vẫn không thanh toán, không hợp tác xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Lê Thái S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C1 theo hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 30/6/2025 là 5.000.160.363 đồng trong đó, nợ gốc là 4.282.518.184 đồng, nợ lãi, phí là 717.642.179 đồng (lãi trên nợ gốc trong hạn là 645.649.439 đồng, lãi quá hạn gốc 21.450.783 đồng và lãi chậm trả lãi là 47.780.263 đồng và phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng). Cụ thể theo từng hợp đồng:

  • Theo Hợp đồng cho vay số 07/2023-HĐCV/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023, ông Lê Thái S nợ số tiền là 3.664.399.203 đồng; trong đó: nợ gốc là 3.146.471.000 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn là 464.643.252 đồng, lãi quá hạn gốc là 17.103.543 đồng, lãi chậm trả lãi là 36.181.408 đồng.
  • Theo Hợp đồng cho vay số 1909/2023-HĐCV/HCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023, ông Lê Thái S nợ số tiền là 1.149.787.889 đồng; trong đó: nợ gốc là 987.950.000 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn là 145.891.795 đồng, lãi quá hạn gốc là 4.347.239 đồng, lãi chậm trả lãi là 11.598.855 đồng.
  • Theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 11/7/2023, ông Lê Thái S nợ số tiền là 185.973.271 đồng; trong đó: nợ gốc là 148.097.184 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn là 35.114.393 đồng, phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng.

T4 buộc ông Lê Thái S phải tiếp tục trả tiền lãi nợ quá hạn cho Ngân hàng TMCP C1 theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, tính trên số nợ thực tế cho đến khi thi hành án xong theo quy định của pháp luật.

Về xử lý tài sản đảm bảo, trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Lê Thái S không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP C1 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đối với các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp việc bán các tài sản bảo đảm không đủ để thu hồi nợ tại Ngân hàng TMCP C1 thì ông Lê Thái S phải tiếp tục trả nợ hoặc xử lý tài sản khác để tiếp tục trả nợ theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu bị đơn ông Lê Thái S chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; về chi phí tố tụng Ngân hàng TMCP C1 tự nguyện chịu toàn bộ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện P đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do ông Lê Thái S có thái độ không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể ông S đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại địa chỉ thường trú ở Xóm C, thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị và tại địa chỉ tạm trú: Lô C Khu đô thị M, thôn D, xã P, huyện P, thành phố H nhưng ông S không đến Tòa án để làm việc nên không có lời khai.

Tòa án nhân dân huyện P đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp, chính quyền địa phương không ghi nhận việc chuyển nhượng, tặng cho hay tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng với bên thứ 3. Hiện trạng các tài sản thế chấp không thay đổi so với thời điểm thế chấp tại Ngân hàng TMCP C1.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P:

  • Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng, không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C1; buộc ông Lê Thái S phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C1 tổng số tiền đến ngày xét xử 30/6/2025 là 5.000.160.363 đồng trong đó, nợ gốc là 4.282.518.184 đồng, nợ lãi, phí là 717.642.179 đồng (lãi trên nợ gốc trong hạn là 645.649.439 đồng, lãi quá hạn gốc 21.450.783 đồng và lãi chậm trả lãi là 47.780.263 đồng và phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng). Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử, ông Lê Thái S còn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến ngày ông Lê Thái S thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Lê Thái S không trả hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP C1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng TMCP C1 là: Quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 341, tờ bản đồ số 7 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 397370 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 11/4/2023, sổ vào sổ cấp CS 07027; quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 340, tờ bản đồ số 7 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 397369 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 11/4/2023, sổ vào sổ cấp CS 07026; nhà ở, tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất tại Lô C, khu đô thị M, xã P, huyện P, thành phố H, thửa đất số 649, tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 263188 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/11/2018, sổ vào sổ cấp CS 01192. Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, thì ông Lê Thái S còn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C1 cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.

Về án phí và chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn, tự nguyện chịu chi phí tố tụng. Đối với án phí dân sự sơ thẩm, vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, Tòa án xác định đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng phát sinh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn, thuộc loại việc dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Lê Thái S có nơi cư trú tại xã P, huyện P, thành phố H nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P.

Bị đơn ông Lê Thái S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Lê Thái S không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

Tài liệu trong hồ sơ thể hiện rõ, ông Lê Thái S đã ký kết với Ngân hàng TMCP C1 02 hợp đồng tín dụng và 01 hợp đồng phát hành thẻ tín dụng, cụ thể: Hợp đồng cho vay số 07/2023-HĐCV/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023; Hợp đồng cho vay số 1909/2023-HĐCV/HCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/7/2023. Mục đích vay là để thanh toán chi phí nhận quyền sử dụng đất và tiêu dung. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, ông S đã ký kết 03 hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất tại 03 địa điểm thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Các tài sản đều đã được đăng ký thế chấp và hiện trạng không có tranh chấp, không thay đổi.

Như vậy, các hợp đồng này thể hiện sự thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái với quy định của pháp luật, hai bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, xác định đây là giao dịch hợp pháp nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 400 và Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015. Tính đến hết ngày 30/6/2025, ông Lê Thái S còn nợ của Ngân hàng TMCP C1 số tiền là 5.000.160.363 đồng; trong đó, nợ gốc là 4.282.518.184 đồng, nợ lãi, phí là 717.642.179 đồng (lãi trên nợ gốc trong hạn là 645.649.439 đồng, lãi quá hạn gốc 21.450.783 đồng và lãi chậm trả lãi là 47.780.263 đồng và phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng). Cụ thể theo từng hợp đồng:

  • Theo Hợp đồng cho vay số 07/2023-HĐCV/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023, ông Lê Thái S nợ số tiền là 3.664.399.203 đồng; trong đó: nợ gốc là 3.146.471.000 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn là 464.643.252 đồng, lãi quá hạn gốc là 17.103.543 đồng, lãi chậm trả lãi là 36.181.408 đồng.
  • Theo Hợp đồng cho vay số 1909/2023-HĐCV/HCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023, ông Lê Thái S nợ số tiền là 1.149.787.889 đồng; trong đó: nợ gốc là 987.950.000 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn là 145.891.795 đồng, lãi quá hạn gốc là 4.347.239 đồng, lãi chậm trả lãi là 11.598.855 đồng.
  • Theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 11/7/2023, ông Lê Thái S nợ số tiền là 185.973.271 đồng; trong đó: nợ gốc là 148.097.184 đồng, lãi trên nợ gốc trong hạn là 35.114.393 đồng, phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng.

Các khoản nợ trên được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký, có chứng cứ kèm theo, phù hợp quy định pháp luật. Quá trình thực hiện nghĩa vụ, Ngân hàng TMCP C1 đã thực hiện nghĩa vụ của mình là giải ngân tổng số tiền vay 4.350.000.000 đồng cho ông Lê Thái S; ông Lê Thái S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dù ngân hàng đã nhiều lần thông báo và tạo điều kiện xử lý. Bị đơn không hợp tác, không có tài liệu hoặc lời trình bày phản bác. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông Lê Thái S vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017), Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự 2015, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Thái S trả toàn bộ số nợ gốc, lãi, phí như trên và số tiền lãi theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến ngày ông Lê Thái S thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP C1, là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[3] Về quyền xử lý tài sản bảo đảm:

Các Hợp đồng thế chấp đã được ký kết hợp pháp, có đăng ký giao dịch bảo đảm. Quá trình xác minh cho thấy tài sản vẫn do bị đơn đứng tên, không có tranh chấp, không bị kê biên. Do đó, căn cứ Điều 299, Điều 303 và Điều 308 Bộ luật dân sự 2015, trường hợp ông Lê Thái S không thanh toán được nợ sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP C1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý các tài sản sau: Quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 341, tờ bản đồ số 7, Giấy chứng nhận số CL 397370, sổ vào sổ cấp CS 07027 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 11/4/2023; Quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 340, tờ bản đồ số 7, Giấy chứng nhận số CL 397369, sổ vào sổ cấp CS 07026 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 11/4/2023; nhà ở, các tài sản khác gắn liền với đất và quyền sử dụng đất tại Lô C Khu đô thị M, xã P, huyện P, thành phố H, thửa đất số 649, tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận số CL 263188, sổ vào sổ cấp CS 01192 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/11/2018. Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì ông Lê Thái S còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.

[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Thái S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.000.000 đồng. H1 lại số tiền tạm ứng án phí 56.207.004 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004477 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 119, 299, 303, 308, 385, 400, 401, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1; buộc ông Lê Thái S phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C1 đối với Hợp đồng cho vay số 07/2023-HĐCV/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023, Hợp đồng cho vay số 1909/2023-HĐCV/HCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/7/2023, tổng số tiền là: 5.000.160.363 đồng; trong đó, nợ gốc là 4.282.518.184 đồng, nợ lãi, phí là 717.642.179 đồng (lãi trên nợ gốc trong hạn là 645.649.439 đồng, lãi quá hạn gốc 21.450.783 đồng và lãi chậm trả lãi là 47.780.263 đồng và phí đối với thẻ tín dụng là 2.761.694 đồng).
  2. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử, ông Lê Thái S còn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 07/2023-HĐCV/NHCT462-LETHAISON ngày 07/7/2023, Hợp đồng cho vay số 1909/2023-HĐCV/HCT462-LETHAISON ngày 19/9/2023, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/7/2023 đã ký kết cho đến khi ông Lê Thái S thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần C1.

    Sau khi bản án có hiệu lực, ông Lê Thái S không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần C1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, xử lý tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 341, tờ bản đồ số 7, Giấy chứng nhận số CL 397370, sổ vào sổ cấp CS 07027 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 11/4/2023; quyền sử dụng đất tại Thôn P, xã A, huyện A, thành phố H, thửa đất số 340, tờ bản đồ số 7, Giấy chứng nhận số CL 397369, sổ vào sổ cấp CS 07026 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 11/4/2023; nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền sử dụng đất tại Lô C Khu đô thị M, xã P, huyện P, thành phố H thửa đất số 649, tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận số CL 263188, sổ vào sổ cấp CS 01192 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/11/2018.

    Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì ông Lê Thái S còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thái S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.000.000 đồng. H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 56.207.004 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004477 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
  4. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố H;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu dán án;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 35/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Lê Thái S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger