|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/DS-ST
Ngày: 20-3-2025
V/v Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH – TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Trung
- Ông Trần Tấn Phát
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Trung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Võ Lê Trúc Phương, Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 502/2024/TLST-DS ngày 21/10/2024, về việc “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐST-DS ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐST-DS ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); địa chỉ: Số C, phố T, phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người được ủy quyền khởi kiện: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (A1).
Người được ủy quyền lại: Ông Võ Đức H, sinh năm 1990; địa chỉ: A P, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 140/UQ-TGĐ.25 ngày 17/3/2025.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Kim Thành T, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1989; địa chỉ: số D, đường B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (Ông T có mặt, bà B vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Võ Đức H trình bày:
A1 cấp tín dụng cho ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B theo Hợp đồng cho vay từng lần số 7844/22/TD/CN/047 ngày 08/08/2022: Số tiền vay: 4.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ đồng); Mục đích vay: Bồi hoàn chi phí mua quyền sử dụng đất thửa đất số 684; 686; 688; tờ bản đồ số 13, diện tích 3.300,4 m², tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Thời hạn vay: 360 tháng; Lãi suất vay: Được quy định trong từng Giấy nhận nợ; Lãi quá hạn là: 150% lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Hợp đồng cho vay từng lần số 7844/22/TD/CN/047 ngày 08/08/2022, ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B đã ký với A1 Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 ngày 08/08/2022.
Tài sản bảo đảm gồm có:
- Tài sản thứ nhất: Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 684, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 612292, Số vào số cấp GCN: CS11863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/06/2022; Cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T.
- Tài sản thứ hai: Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 686, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 612290, Số vào số cấp GCN: CS11861 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/06/2022. Cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T.
- Tài sản thứ ba: Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 688, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtsố DG 612293, Số vào sổ cấp GCN: CS11864, do Sở T cấp ngày 02/06/2022. Cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T.
Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 đã được công chứng ngày 08/08/2022 tại Phòng C tỉnh Tây Ninh, địa chỉ 082, đường T, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 08/08/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh huyện C.
A1 đã giải ngân và ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B đã rút tổng số tiền là: 4.000.000.000 đồng, cụ thể:
- Theo Giấy nhận nợ số 7844/22/TD/CN/047 ngày 20/08/2022, số tiền rút vốn 2.000.000.000 đồng, ngày rút vốn 20/08/2022, ngày đến hạn 21/08/2052, lãi suất 12,7%/năm, lãi suất thay đổi định kỳ 03 tháng/lần kể từ thời điểm A1 giải ngân.
- Theo Giấy nhận nợ số 7844/22/TD/CN/047.02 ngày 23/08/2022, số tiền rút vốn 2.000.000.000 đồng, ngày rút vốn 23/08/2022, ngày đến hạn 21/08/2052, lãi suất 12,7%/năm, lãi suất thay đổi định kỳ 03 tháng/lần kể từ thời điểm A1 giải ngân.
Ngày 16/7/2024, A1 đã bán toàn bộ Khoản nợ ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B cho VAMC và VAMC đã mua nợ theo Hợp đồng mua bán nợ số 917/2024/MBN.VAMC- A1.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của VAMC, VAMC đã ký Hợp đồng ủy quyền số 918/2024/UQ.VAMC-ABBANK ngày 16/7/2024 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B.
Ông bà đã vi phạm khi không thực hiện trả gốc lãi của kỳ trả nợ ngày 21/08/2023 tới nay đã quá hạn 535 ngày.
ABBANK/VAMC đã nhiều lần liên hệ và làm việc trực tiếp, thông báo nhắc nợ, thông báo chuyển nợ quá hạn, thông báo về việc thu hồi nợ trước hạn.... Tuy nhiên, khách hàng đã không thực hiện việc trả nợ, vi phạm nghiêm trọng các thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thế chấp đã ký kết.
Nay Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B phải thanh toán cho VAMC tổng số tiền Tạm tính đến hết ngày 20/3/2025, tổng số tiền ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B còn nợ VAMC là 4.887.460.029 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.877.679.994 đồng; Lãi trong hạn: 969.236.487 đồng; Lãi quá hạn: 40.543.548 đồng.
Buộc ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 21/3/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần số 7844/22/TD/CN/047 ngày 08/08/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trong trường hợp ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B không trả hoặc trả không đủ nợ, VAMC có quyền phát mãi xử lý tài sản bảo đảm và/ hoặc có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 ngày 08/08/2022 để VAMC thu hồi nợ.
Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản vay ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết đã ký tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi hết số nợ còn lại.
Bị đơn ông T trình bày: Ông đồng ý trả nợ theo toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng hiện do ông không có khả năng trả nợ nên đang kêu người đến mua đất để có tiền trả nợ, ông xin cho thời gian để bán được đất.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà B đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không trình bày ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:
+ Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng, đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Buộc ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B phải thanh toán cho VAMC tổng số tiền Tạm tính đến hết ngày 20/3/2025, tổng số tiền ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B còn nợ VAMC là 4.887.460.029 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.877.679.994 đồng; Lãi trong hạn: 969.236.487 đồng; Lãi quá hạn: 40.543.548 đồng. Ông T, bà B phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 21/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết. Trong trường hợp ông T, bà B không trả hoặc trả không đủ nợ, VAMC có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 ngày 08/08/2022 để VAMC thu hồi nợ. Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản vay ông T, bà B phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết đã ký tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi hết số nợ còn lại.
Đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (V) có yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Kim Thành T, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1989; địa chỉ: số D, đường B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại các Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bà B vắng mặt nhưng Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để đảm bảo cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về đánh giá chứng cứ:
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, bà B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố (nếu có). Do đó, bà B phải chịu hậu quả pháp lý của việc không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 196 và Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật.
[2.2.] Về xác định số tiền nợ gốc và tiền lãi:
Căn cứ vào Hợp đồng cho vay từng lần số 7844/22/TD/CN/047 ngày 08/08/2022, Giấy nhận nợ số 7844/22/TD/CN/047 ngày 20/08/2022 và Giấy nhận nợ số 7844/22/TD/CN/047.02 ngày 23/08/2022 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (A1) và ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B thể hiện: A1 cấp tín dụng cho ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B theo Hợp đồng cho vay từng lần số 7844/22/TD/CN/047 ngày 08/08/2022: Số tiền vay: 4.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ đồng); Mục đích vay: Bồi hoàn chi phí mua quyền sử dụng đất thửa đất số 684; 686; 688; tờ bản đồ số 13, diện tích 3.300,4 m², tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Thời hạn vay: 360 tháng; Lãi suất vay: 12,7%/năm, lãi suất thay đổi định kỳ 03 tháng/lần kể từ thời điểm A1 giải ngân; Lãi quá hạn là: 150% lãi suất trong hạn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa A1 và ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B là có thật và các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
Ngày 16/7/2024, A1 đã bán toàn bộ Khoản nợ ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B cho VAMC và VAMC đã mua nợ theo Hợp đồng mua bán nợ số 917/2024/MBN.VAMC- A1.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của VAMC, VAMC đã ký Hợp đồng ủy quyền số 918/2024/UQ.VAMC-ABBANK ngày 16/7/2024 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.
Do ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B vi phạm hợp đồng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) khởi kiện yêu cầu ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ trả cho VAMC tiền nợ tổng cộng tính đến ngày 20/3/2025 là 4.887.460.029 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.877.679.994 đồng; Lãi trong hạn: 969.236.487 đồng; Lãi quá hạn: 40.543.548 đồng và yêu cầu ông T, bà B phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay là có cơ sở để chấp nhận.
[2.3] Về xử lý tài sản bảo đảm:
Ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 684, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 612292, Số vào số cấp GCN: CS11863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/06/2022, cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T; Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 686, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 612290, Số vào số cấp GCN: CS11861 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/06/2022, Cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T và Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 688, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtsố DG 612293, Số vào sổ cấp GCN: CS11864, do Sở T cấp ngày 02/06/2022. cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 đã được công chứng ngày 08/08/2022 để đảm bảo cho nghĩa vụ vay của ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B tại Ngân hàng.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đảm bảo về nội dung và hình thức, phù hợp theo quy định tại các Điều 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 167 Luật Đất đai 2013. Đồng thời, tài sản thế chấp đã được đăng ký biện pháp bảo đảm đúng quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 nên hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên có hiệu lực pháp luật. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật là có cơ sở để chấp nhận.
[2.4] Tại điểm b khoản 4 Điều 7 Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 đã được công chứng ngày 08/08/2022 thể hiện các bên có thỏa thuận nội dung liên quan đến xử lý tiền bán tài sản bảo đảm như sau: “...Số tiền còn thừa sẽ được hoàn trả lại cho Bên Bảo Đ (nếu còn). Trường hợp không đủ thì Bên Bảo Đảm và/ hoặc Bên Được Cấp Tín Dụng phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợj và các nghĩa vụ khác phát sinh tại A1.”
Do đó, nguyên đơn yêu cầu sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản vay ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết đã ký tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi hết số nợ còn lại là có cơ sở để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
[3] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ các tài sản tổng cộng là 3.000.000 đồng. Ghi nhận Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã tạm ứng xong. Buộc ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả lại Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do buộc ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền tổng cộng là 4.887.460.029 đồng nên ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí sơ thẩm = 112.000.000 đồng + 0,1% x (4.887.460.029 đồng -4.000.000.000 đồng) = 112.887.000 đồng.
Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.238.000 đồng theo Biên lai thu số 0003495 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 319, 323 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đối với ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B.
1.1. Buộc Ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền tổng cộng là 4.887.460.029 đồng (Bốn tỷ tám trăm tám mươi bảy triệu bốn trăm sáu mươi nghìn không trăm hai mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 3.877.679.994 đồng (Ba tỷ tám trăm bảy mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm chín mươi bốn đồng); Lãi trong hạn: 969.236.487 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi bảy đồng); Lãi quá hạn: 40.543.548 đồng (Bốn mươi triệu năm trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay (hoặc bên phải thi hành) còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.2. Trường hợp ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B không trả nợ thì Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 7844/22/TC/CN/047 đã được công chứng ngày 08/08/2022 để thu hồi nợ vay. Cụ thể tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là:
- Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 684, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 612292, Số vào số cấp GCN: CS11863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/06/2022, cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T.
- Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 686, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 612290, Số vào số cấp GCN: CS11861 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/06/2022, Cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T.
- Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 688, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtsố DG 612293, Số vào sổ cấp GCN: CS11864, do Sở T cấp ngày 02/06/2022. cập nhật chủ sở hữu/sử dụng ngày 28/07/2022 cho ông Nguyễn Kim Thành T.
1.3. Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản vay ông Nguyễn Kim Thành T và bà Nguyễn Thị B sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết đã ký tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi hết số nợ còn lại.
2. Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ các tài sản tổng cộng là 3.000.000 đồng. Ghi nhận Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã tạm ứng xong. Buộc ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả lại Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Kim Thành T, bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.887.000 đồng (Một trăm mười hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.238.000 đồng theo Biên lai thu số 0003495 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
4. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt (bà B) tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Dung |
Bản án số 35/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH – TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 35/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH – TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN TOÀN BỘ YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA CÔNG TY TNHH MTV Q ĐỐI VỚI ÔNG NGUYỄN KIM THÀNH T, BÀ NGUYỄN THỊ B VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
