Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/DS-PT

Ngày 30/6/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Thực.

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương.

Ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Bà Trần Thị Phương Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo, kháng nghị. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1978.

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1972.

      Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

    • - Chị Trịnh Thị M, sinh năm 1989.
    • - Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1990.
    • Đều có địa chỉ: Nhà số A, ngõ A H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
  4. Người làm chứng:
    • - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1939; Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
    • Ông Nguyễn Khắc M1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
    • - Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
    • - Ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
    • - Ông Nguyễn Thắng T1, sinh năm 1952.
    • - Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957.
    • Đều có địa chỉ: Thôn L, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
  5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị K.
  6. Người kháng nghị: Viện trưởng VKSND tỉnh Hưng Yên.

(Có mặt chị H, anh B, bà K, anh T, chị M; Vắng mặt những người còn lại)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Năm 2002, vợ chồng chị và cậu ruột là ông Trịnh Văn C (ông C là chồng bà K) cùng nhau góp tiền đấu thầu chung mảnh đất số 4 tại Cống G, Trạm Bơm Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Hai bên thống nhất để một mình ông C đứng tên, vì là cậu cháu ruột nên khi vợ chồng chị giao tiền không lập giấy tờ gì. Việc mua chung đất của vợ chồng chị và ông C anh, em trong gia đình nhiều người biết. Do chưa có nhu cầu sử dụng nên đất vẫn bỏ không, thỉnh thoảng bà K là vợ ông C có trồng vài cây củ bột hoặc rau, hai bên chưa phân chia đất. Đến năm 2007 ông C bị bệnh hiểm nghèo. Biết là không thể khỏi được bệnh nên đến tháng 11 năm 2007, ông C đã viết giấy đề nghị các ban ngành có thẩm quyền chia đất và sang tên cho vợ chồng chị ½ diện tích thửa đất. Văn bản đề nghị đã được ông Nguyễn Văn K1 là trưởng thôn Mụ, xã L xác nhận ngày 27/11/2007. Vợ chồng chị có mang đơn ra Ủy ban nhân dân xã L và được ông M1 làm trong Ban địa chính xã khi đó hướng dẫn là cậu cháu trong nhà thì về thôn xác nhận là được và tự chia nhau. Sau đó ông C đã giao cho vợ chồng chị giữ giấy tờ của thửa đất là “Biên lai thu tiền” và các giấy tờ khác liên quan đến thửa đất. Ngày 05/4/2008 ông C chết. Cùng trong năm 2008, sau thời điểm ông C chết vài tháng thì vợ chồng chị có đề nghị chia thửa đất mua chung và có đưa ra bản photo giấy viết tay của ông C thì bà K giằng, xé luôn mà không đồng ý chia trả đất cho vợ chồng chị. Bà K còn dựng bia mộ giả, làm sai lệch ngày chết của ông C, vu khống cho vợ chồng chị giả mạo giấy tờ. Vợ chồng chị không muốn khởi kiện ngay mà mong muốn có thời gian để bà K và các con của bà suy nghĩ giải quyết tình cảm. Nhưng sau đó các bên không hòa giải được. Vợ chồng chị cũng đã

đề nghị Ủy ban nhân dân xã L hòa giải nhưng không thành. Chị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà K và chị Trịnh Thị M, anh Trịnh Văn T phải chia trả cho vợ chồng chị ½ diện tích thửa đất (tương đương 42 m²) tại ô số D, Cống G, Trạm Bơm Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Bị đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:

Năm 2002 gia đình bà có trúng đấu thầu ô số 4, loại đất thùng vũng tại khu C, thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, diện tích là 83,1m². Số tiền phải nộp là 14.127.000 đồng do bà nộp cho ông Trịnh Tiến H2 là thủ quỹ của thôn M, nhưng để cho ông C là chồng bà ký tên nộp tiền. Số tiền phải nộp bà vay của vợ chồng bà Nguyễn Thị L1 là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng, bà L1 là chị ruột bà). Sau đó gia đình bà đầu tư để san lấp thùng vũng, tôn tạo ô đất mới trồng được hoa màu. Bà xác định đây là đất của gia đình bà, nên không tính cụ thể công sức là bao nhiêu, đất chưa phải nộp thuế sử dụng. Về việc thay đổi diện tích đất là do trước đây còn phần đất là hành lang thoát nước, bản đồ năm 2018 đã xác định đất của gia đình bà là 97,7 m2. Từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2017 vợ chồng anh B, chị H đã dùng vũ lực, cậy đông người xe đất cát san lấp đổ trùm lên hoa màu bà đang chăm sóc, đe dọa gia đình bà phải chia cho ½ diện tích thửa đất. Bà K xác định chồng bà trước khi chết không có ký giấy tờ chuyển nhượng bất kỳ một tài sản gì. Bà K đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Anh Nguyễn Văn B: Năm 2002, vợ chồng anh và ông Trịnh Văn C (là cậu ruột của chị H) có góp tiền mua chung thửa đất có diện tích 83 m² tại cống Ghi Phông gần trạm bơm Đậu, xã L. Các bên thống nhất để một mình ông C đứng tên, sau đó ông C có đề nghị Ủy ban nhân dân xã phân chia cho vợ chồng anh ½ diện tích thửa đất nhưng Ủy ban nhân dân xã đã hướng dẫn về thôn giải quyết, nên sau đó trưởng thôn là ông Nguyễn Văn K1 đã xác nhận vào Đơn xin sang tên giấy thuê thầu đất thùng vũng không thời hạn cho hai bên vào ngày 27/11/2007. Anh B xác định vợ chồng anh đưa tiền cho ông C mua đất từ đầu tháng 6 năm 2002, số tiền là khoảng 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Anh B đề nghị bà K, anh T và chị M chia trả cho vợ chồng anh ½ diện tích thửa đất.

- Chị Trịnh Thị M, anh Trịnh Văn T: Có lời khai thể hiện nhất trí quan điểm với bà K trong việc giải quyết vụ án. Chị Mến yêu C1 chị H và anh B chứng minh việc góp tiền với bố chị có chứng cứ gì không, thời gian, địa điểm, số tiền cụ thể, có ai chứng kiến hoặc có giấy tờ gì; đối với kết luận giám định tài liệu chị đề nghị xem kết luận giám định có xác định được hết các tình tiết trong đơn như có bị uy hiếp hay không, người viết có tỉnh táo hay không, đơn này có phải là giấy góp vốn

hay không. Anh T còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các chứng cứ trong quá trình tạm ngừng phiên tòa; anh chị đều phản đối yêu cầu của anh B, chị H và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Lời khai của những người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn L: Năm 2002 ông có tham gia ban tổ chức đấu thầu đất tại thôn M, xã L, trưởng thôn Mụ lúc đó là ông Trịnh Xuân H3 (ông H3 đã chết). Trong số những người đấu thầu đất có ông Trịnh Văn C trúng thầu một ô diện tích đất là 83,10m², tổng số tiền phải trả là 14.127.000 đồng (mười bốn triệu, một trăm hai mươi bẩy nghìn đồng). Ông C có ký vào ô ký nộp trên tờ giấy “Đất trạm bơm lên gốc gạo”. Sau khi ông C nộp đủ tiền thì ban tổ chức đấu thầu viết Phiếu thu số 2 ngày 30/6/2002 và giao cho ông C một bản, sau này bà K là vợ ông C có đến xin nên ông L đã cho bà K bản gốc phiếu thu số 2 ngày 30/6/2002 là bản thứ hai. Ông L xác định chữ viết “Trịnh Văn C” trên tờ Phiếu thu số 2 ngày 30/6/2002 và chữ viết “Cường” trên tờ giấy “Đất trạm bơm lên gốc gạo” là do ông C trực tiếp ký. Ông L đề nghị vắng mặt khi Tòa án xét xử.

- Ông Nguyễn Văn K1: Ông làm trưởng thôn hai khóa, khóa 1 từ năm 2006 đến năm 2008, khóa 2 từ năm 2010 đến năm 2012. Khi có việc tranh chấp giữa bà K và vợ chồng anh B ông được mời ra xã hòa giải. Xem Đơn xin sang tên giấy thuê thầu đất thùng vũng không thời hạn ngày 27/11/2007 của ông Trịnh Văn C, ông xác định có xác nhận vào tài liệu này. Ông C đến gặp và trình bày với ông về việc mua chung đất với cháu và đề nghị tách trả cháu là anh B chị H một nửa diện tích đất thuê thầu là đúng. Ông có nói việc này lên xã giải quyết thì ông C nói là xã bảo về thôn xác nhận, vì thôn cho thuê thầu.

- Ông Nguyễn Khắc M1: Ông có tham gia giúp việc cho Ủy ban nhân dân xã L từ năm 1994 đến năm 2014, vào khoảng tháng 11 năm 2007 ông có chứng kiến ông C và anh B đến Ủy ban nhân dân xã L gặp ông Đàm Văn L2 là cán bộ địa chính. Ông C đề nghị địa chính xã làm thủ tục tách đôi thửa đất hiện tranh chấp giữa các bên cho anh B chị H theo pháp luật, có giấy tờ đầy đủ cho cậu cháu. Ông L2 trả lời Ủy ban nhân dân xã không xác nhận được vì đất giao trái thẩm quyền, ông L2 giao cho ông hướng dẫn hai cậu cháu làm giấy tờ tự phân chia cho nhau, ông có hướng dẫn bảo làm giấy tờ và về nhờ trưởng thôn làm chứng.

- Ông Hoàng Văn H1: Ông xác định ông Trịnh Văn C là chồng bà K chết ngày 05/4/2008. Lý do ông biết được là vì ngày 04/4/2008 bác họ ông là bà Nguyễn Thị H4 ở cùng thôn Đ, xã L chết, hôm sau ông có sang nhà anh B rủ sang làm giúp thì con anh B nói là bố mẹ cháu sang nhà ông cậu C vì ông mất.

- Vợ chồng ông Nguyễn Thắng T1, bà Nguyễn Thị L1: Ông bà có cho bà K vay số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đấu thầu đất năm 2002. Bà L1 trình bày có viết giấy vay tiền giao cho bà K giữ, ông T1 xác định do lâu không nhớ có viết giấy hay không.

Về kết quả xác minh, thu thập chứng cứ, định giá tài sản, giám định tài liệu:

Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L thể hiện: Thửa đất tranh chấp là ô đất số 04, diện tích 83,1 m² ở khu V, thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nguồn gốc đất do thôn M, xã L giao trái thẩm quyền trước ngày 01/7/2004, cụ thể là do thôn cho thuê thầu không thời hạn năm 2002. Người đứng tên thuê thầu là ông Trịnh Văn C, số tiền phải nộp là 14.127.000 đồng. Thời điểm năm 2017 đất chưa được chỉnh lý trên bản đồ do là đất giao trái thẩm quyền, đất chưa phải nộp thuế sử dụng. Diện tích đất theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 82 m².

Báo cáo số 14/BC-UBND, ngày 24/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã L xác định thửa đất số 166, tờ bản đồ 21, năm 2018, diện tích 97,7 m²: Nguồn gốc đất giao trái thẩm quyền năm 2002, thời điểm sử dụng đất năm 2002, thuộc loại đất trồng cây hàng năm khác.

Công văn số 04/CV-XN ngày 29/01/2024 của Xí nghiệp K2 xác định diện tích đất tranh chấp không nằm trong bờ và phạm vi hành lang bảo vệ sông Đ.

Hội đồng định giá kết luận về giá trị tài sản:

- Đối với quyền sử dụng đất, nếu là đất trồng cây lâu năm thì giá trị là 135.000 đồng/m², trị giá đất 97,7 m² x 135.000 đồng/m² = 13.189.500 đồng; nếu là đất trồng cây hàng năm thì giá trị là 125.000 đồng/m², trị giá đất 97,7 m² x 125.000 đồng/m² = 12.212.500 đồng; nếu là đất ở tại nông thôn thì giá trị là 2.500.000 đồng/m², trị giá đất 97,7 m² x 2.500.000 đồng/m² = 244.250.000 đồng; nếu là đất thương mại dịch vụ thì giá trị là 1.100.000 đồng/m², trị giá đất 97,7 m² x 1.100.000 đồng/m² = 107.470.000 đồng.

Đối với cây nghệ trên đất có diện tích 59m², có giá là 40.000 đồng/m² bằng 2.360.000 đồng; cây lá gai có diện tích 24 m², có giá 10.000 đồng/m² bằng 240.000 đồng.

Theo Báo cáo số 14/BC-UBND, ngày 24/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã L xác định loại đất là đất trồng cây hàng năm khác, giá trị là 125.000 đồng/m2.

Về việc giám định:

Ngày 25/8/2024, Phòng K3 Công an tỉnh H giám định chữ viết của ông Trịnh Văn C tại Phiếu thu đề ngày 30/6/2002 (ký hiệu A1) và Đơn xin sang tên giấy thuê thầu đất đề ngày 27/11/2007 (ký hiệu A2). Tại đơn này thể hiện nội dung ông C xác định chị H góp tiền thầu chung đất mảnh đất số 4 và đề nghị

chính quyền tách trả chị H anh B một nửa diện tích đất thuê thầu để không vướng mắc gì về tình cảm và pháp luật, đơn có xác nhận của trưởng thôn M2, xã L là ông Nguyễn Văn K1.

Kết luận giám định xác định: Phần chữ viết dòng họ tên có nội dung “Trịnh Văn C” bằng bút mực màu xanh dưới mục “người nộp” của tài liệu mẫu so sánh ký hiệu A1 với phần chữ viết màu mực xanh, dòng thứ ba từ đầu trang xuống tại mặt trước và chữ viết dòng họ tên có nội dung “Trịnh Văn C” của tài liệu ký hiệu A2 là do cùng một người viết ra.

Tại bản án số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên quyết định:

  1. Áp dụng: Khoản 2 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158, Điều 163, Điều 166, Điều 207, Điều 208, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
  2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.

    Buộc bà Nguyễn Thị K, chị Trịnh Thị M, anh Trịnh Văn T phải trả chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn B 41 m2 đất đấu thầu theo hình CDEF trong sơ đồ kèm theo, tại thửa đất số 166, tờ bản đồ 21, năm 2018 địa chỉ thửa đất tại Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

    Tài sản trên phần đất của ai người đó được quyền quản lý, sử dụng.

    Hậu quả của việc đất thuê thầu không đúng quy định của pháp luật, các bên tự chịu trách nhiệm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng; quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bà K có đơn kháng cáo đề ngày 03/4/2025 nội dung: Bà kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ - VKS - DS ngày 25/4/2025 đối với một phần bản án số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng xem xét công sức, giá trị hoa màu trên đất cho gia đình bà K và không chia tách thửa đất, buộc bên nhận đất phải thanh toán cho bên còn lại bằng tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn là chị H đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chị M và anh T đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa

thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đối với kháng nghị số 03/QĐ - VKS - DS ngày 25/4/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Bà K, chị M, anh T nhất trí; phía chị H và anh B không đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng. Đối với người tham gia tố tụng cơ bản đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ - VKS - DS ngày 25/4/2025 đối với một phần bản án số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng xem xét công sức, giá trị hoa màu trên đất cho gia đình bà K và không chia tách thửa đất, buộc bên nhận đất phải thanh toán cho bên còn lại bằng tiền. Không chấp nhận kháng cáo của bà K về việc bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị K được làm trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ và được xem xét theo luật định.

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ - VKS - DS ngày 25/4/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với một phần bản án số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là trong thời hạn và đúng thẩm quyền nên cũng được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, kháng cáo của bà K và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên thì thấy:

[2.1]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị K phải trả lại một nửa diện tích đất thuê thầu ô đất số 4, diện tích 83,1m², loại đất thùng vũng tại khu G, thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Lý do chị H khởi kiện là do vợ chồng chị và ông Trịnh Văn C đấu thầu chung thửa đất.

Xét về nguồn gốc ô đất số 4, diện tích 83,1m², loại đất thùng vũng tại khu gốc cây G, thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Trước năm 2018 chưa thể hiện

số thửa, diện tích trên bản đồ. Theo bản đồ năm 2018 là thửa số 166, tờ bản đồ số 21, diện tích 97,7 m².

Trên cơ sở Báo cáo số 14 ngày 24/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã L về xác định nguồn gốc, loại đất; lời khai của chị H, bà K, cung cấp của Ủy ban nhân dân xã L và các chứng cứ khác là: “Phiếu thu”, “Biên bản giao đất”. Có căn cứ xác định diện tích đất đang tranh chấp do thôn M, xã L tổ chức đấu thầu thời điểm năm 2002. Theo quy định tại Điều 23, Điều 24 Luật Đất đai năm 1993 thì thôn không có thẩm quyền được giao, cho thuê thầu đất. Do vậy xác định thửa đất trên có nguồn gốc do thôn M đấu thầu trái thẩm quyền.

Xét việc chị H yêu cầu được chia một nửa diện tích đất vì đây là tài sản đấu thầu chung: Căn cứ lời khai của đương sự, người làm chứng, tài liệu chứng cứ về việc nộp tiền đấu thầu, kết luận giám định, xác định:

Số tiền đấu thầu theo ghi nhận tại Phiếu thu xác định là 14.127.000đồng, ký tên người nộp tiền là ông Trịnh Văn C. Lời khai của ông L là người trong ban tổ chức đấu thầu khi đó xác định ông C là người trực tiếp ký vào phiếu thu. Bà K xác định ông C là người ký vào phiếu thu. Như vậy có cơ sở xác định chữ ký, chữ viết Trịnh Văn C trên tờ phiếu thu ở phần người nộp tiền là chữ của ông C.

Kết quả giám định số 273/KL-KTHS ngày 25/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H ngày 25/8/2024 xác định chữ ký, chữ viết “Trịnh Văn C” trên tờ phiếu thu ở phần người nộp và chữ viết có dòng nội dung “Trịnh Văn C” ở tờ “Đơn xin sang tên giấy thuê thầu đất, thùng, vũng không thời hạn” là do cùng một người viết ra.

Như vậy có căn cứ xác định văn bản “Đơn xin sang tên giấy thuê thầu đất, thùng, vũng không thời hạn” đề ngày 27/11/2007 là do ông C viết. Nội dung đơn thể hiện: “Tôi là Trịnh Văn C ở tại thôn M, xã L ...theo nghị quyết của xã và thôn cho đấu thầu đất thùng vũng từ cống ghi Phông trạm bơm Đ lên đến cây Gạo còng thuộc khu vực thôn M nên tôi cùng cháu B, H thôn Đ cùng trong xã góp tiền thầu mảnh đất số 4, mảnh đất hiện mang tên một mình tôi nên tôi làm đơn này kính mong ban địa chính cùng toàn thể ban ngành có thẩm quyền giúp đỡ tôi chia trả cho cháu B H một nửa theo số diện tích trong văn bản cũ và sang tên văn bản thuê thầu mới cho cháu B H để cháu được sử dụng mà không vướng mắc điều gì về tình cảm và pháp luật”. Lời thừa nhận đấu thầu chung của ông C phù hợp với xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L và những người làm chứng khác cụ thể như sau: UBND xã L cung cấp: Khoảng năm 2007, ông C có đến Ủy ban nhân dân xã L đề nghị xác nhận cho một văn bản có nội dung thể hiện ông C chia trả cho vợ chồng anh B, chị H một nửa ô đất số 4. Ủy ban nhân dân xã không xác nhận cho ông C vì là đất thuê thầu trái thẩm quyền. Người làm chứng là ông M1 có lời khai cho biết thời điểm

tháng 11 năm 2007, ông có làm việc ở xã L có chứng kiến ông C đến đề nghị địa chính xã làm thủ tục chia đôi thửa đất cho anh B, chị H ½ diện tích. Cán bộ địa chính lúc đó là ông L2 (đã chết) trả lời là đất thuê thầu và chưa chỉnh lý sang bản đồ thổ cư. Do ông C vẫn đề đạt nguyện vọng phân chia rõ ràng cho hai cậu cháu nên ông L2 có giao cho ông M1 hướng dẫn cho ông C, anh B làm giấy tờ tự phân chia và nhờ người làm chứng. Như vậy căn cứ tờ đơn xin sang tên giấy thuê thầu, đất thùng vũng không thời hạn của ông C đã thể hiện ô đất số 4 là do ông và vợ chồng chị H, anh B góp tiền mua chung cho nên ông mới đề nghị với chính quyền địa phương làm thủ tục chia để trả cho vợ chồng anh B, chị H ½ diện tích thửa đất.

Lời khai của chị H phù hợp chứng cứ là bản gốc phiếu thu tiền, biên bản giao đất, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cung cấp của Ủy ban nhân dân xã L. Có đủ cơ sở xác định có việc chị H, anh B chung tiền với ông C để đấu thầu ô đất số 4. Sau khi trúng thầu các giấy tờ gốc ông C đã giao cho chị H quản lý, do mắc bệnh hiểm nghèo nên ông đã muốn giải quyết dứt điểm việc đấu thầu chung, tại đơn xin sang tên đất ông ghi rõ “kính mong ban địa chính cùng đoàn thể ban ngành có thẩm quyền giúp đỡ chia trả cháu B H một nửa diện tích đất, để không vướng mắc gì về tình cảm và pháp luật”. Mặc dù phía chị H không cung cấp được chứng cứ để xác định là góp bao nhiêu tiền, góp vào thời gian nào, nhưng việc ông C đề nghị chia trả ½ diện tích đất cho anh B, chị H là cơ sở cho thấy việc chị H, anh B đưa tiền cho ông C để đấu thầu ô đất số 4 là có thật.

Đối với việc bà K, chị M, anh T tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng việc ông C viết tờ “Đơn xin sang tên giấy thuê thầu đất, thùng, vũng không thời hạn” đề ngày 27/11/2007 là do bị lừa dối hoặc trong trạng thái tinh thần không được minh mẫn nhưng nguyên đơn bà K và chị M, anh T không đưa ra được căn cứ chứng minh.

Từ những phân tích trên, theo quy định tại Điều 207, 208, 209 Bộ luật dân sự. Có cơ sở xác định: Ô đất số 4, thuộc thửa số 166, tờ bản đồ số 21 lập năm 2018, diện tích 97,7 m² (diện tích theo kết quả thẩm định 82m²), loại đất thùng vũng do thôn M bán trái thẩm quyền tại khu G, thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên là tài sản chung của vợ chồng bà K, ông C và vợ chồng chị H, anh B và mỗi bên có 1/2 thửa đất.

[2.2]. Xét quan điểm của bà K cho rằng bà là người trực tiếp nộp tiền bằng nguồn tiền vay của vợ chồng ông T1 ở Bắc Ninh và bà K là người trực tiếp nộp tiền đất cho thôn còn ông C chỉ ký vào phiếu thu, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về “Giấy vay tiền” do bà K giao nộp có nội dung “Vào hồi 15h ngày 15/5/2002, bà K ở thôn M, xã L đến nhà tôi N T1 vợ tôi là Nguyễn Thị L1 ở thôn L, xã N ....hỏi vay vợ chồng tôi 10 triệu đồng để về đặt cọc mua đất ở cống xi phông,

cây gạo còng đường đi chợ đậu. Nếu gắp phiếu được thì cho thu xếp trả dần còn không trúng phiếu thì phải trả ngay. Chúng tôi đã giao tiền cho bà K đủ 10 triệu đồng, bà K đã nhận đủ lấy chữ ký để làm bằng chứng...”:

Đánh giá về tính khách quan cũng như giá trị chứng minh của Giấy vay tiền thì thấy: Trong suốt quá trình tranh chấp ban đầu từ năm 2010 đến khi nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án huyện V năm 2017, vụ việc đã được thôn và chính quyền địa phương giải quyết cho đến khi Tòa án thụ lý và đưa vụ án ra xét xử, phía gia đình bà K không hề đề cập cũng như xuất trình giấy vay. Tại phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án huyện Văn Lâm tiến hành, bà K có quan điểm không còn tài liệu chứng cứ nào khác để giao nộp cho Tòa án. Đến khi Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bà K mới giao nộp “Giấy vay tiền” là không đảm bảo về thời hạn giao nộp tài liệu chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, Giấy vay này là giữa nội bộ bà K với vợ chồng ông T1, bà L1 với nhau không có chữ ký của ông C cũng như người thứ ba hoặc qua công chứng chứng thực. Trong khi bà K với bà L1 là chị em ruột. Vợ chồng ông T1, bà L1 khi trình bày về giấy vay tiền thì cũng mâu thuẫn với nhau: Bà L1 xác định có viết giấy còn ông T1 lại khai là do chỗ chị em nên không bắt viết giấy; đến khi Tòa án cho biết là bà L1 khai có viết giấy vay thì ông cho rằng do thời gian đã lâu nên ông không nhớ rõ (BL 252, 264).

Hơn nữa việc vay tiền giữa bà K và vợ chồng ông T1 là một quan hệ pháp luật khác. Nếu việc vay tiền là có thật thì cũng không đủ căn cứ để xác định việc bà K đã sử dụng số tiền vay để trả tiền thuê thầu đất vì việc quản lý, sử dụng tiền như thế nào là do vợ chồng bà.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Văn L là người tham gia ban tổ chức cho đấu thầu đất năm 2002 đã xác định: Ông C là người nộp tiền ban đầu là 10 triệu đồng sau đó nộp tiếp 4.127.000 đồng, ông C có ký vào ô “Ký nộp” tại tờ giấy có tiêu đề đầu trang là “Đất trạm bơm lên gốc Gạo” và sau khi ông C nộp đủ tiền thì ban tổ chức đấu thầu có viết phiếu thu số 2 ngày 30/6/2002 và giao cho ông C 1 bản; sau này bà K có lên xin nên ông cho bà K bản gốc phiếu thu số 2 ngày 30/6/2002 là bản thứ hai (BL184,186).

Vì vậy Giấy vay tiền nói trên không thỏa mãn yêu cầu để chứng minh nguồn tiền mua đất cũng như việc bà K khai tự nộp tiền và ông C chỉ ký nhận là không có cơ sở.

[2.3]. Về hậu quả của việc thôn M, xã L cho thuê thầu không đúng pháp luật:

Mặc dù xác định đất là do thôn M, xã L cho thuê thầu không đúng pháp luật mà bản chất là việc bán đất trái thẩm quyền. Tuy nhiên, việc giải quyết hậu quả

phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, theo quy định tại khoản 3 Điều 81, khoản 3 Điều 96 Luật đất đai năm 2024 và quy định khác của pháp luật. Hơn nữa trong vụ án không có đương sự nào yêu cầu xem xét hậu quả của việc thuê thầu trái thẩm quyền nên không đặt ra xem xét.

Đối với đất thuê thầu thì người được thuê thầu vẫn có quyền, nghĩa vụ quản lý, sử dụng theo pháp luật. Do vậy việc cấp sơ thẩm không xem xét về hậu quả của việc thôn M, xã L cho thuê thầu là có cơ sở. Các bên phải tự chịu hậu quả của việc đất thuê thầu không đúng quy định của pháp luật với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

[2.4]. Về chênh lệch diện tích đất đấu và giá trị tài sản tranh chấp:

Tại thời điểm bàn giao đất đấu thầu năm 2002 diện tích thửa đất là 83,1m² gồm chiều phía Đông và phía T2 là 6 m, phía Nam là 13 m, phía Bắc là 14,7 m. Theo bản đồ năm 2018 thì diện tích đất là 97,7 m², bà K trình bày diện tích tăng lên là do xác định phần hành lang thoát nước.

Căn cứ Báo cáo số 14/BC-UBND ngày 24/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã L xác định loại đất là đất trồng cây hàng năm khác. Diện tích theo kết quả thẩm định tại chỗ là 82m², thay đổi không nhiều so với diện tích ban đầu, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo diện tích đã được thẩm định.

Trên cơ sở kết quả định giá, đất tranh chấp thuộc loại đất trồng cây hàng năm có giá trị là 82m² x 125.000 đồng/m² = 10.250.000 đồng.

[2.5]. Về tài sản trên đất, áng trích công sức và phân chia hiện vật:

Đối với tài sản trên đất gồm có cây nghệ và cây lá gai là các cây trồng do gia đình bà K tạo lập nên thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình bà K.

Đối với công sức của gia đình bà K: Phải xác định gia đình bà K có công sức trong việc trông coi quản lý, tôn tạo vượt lập nhưng bà không đưa ra được số liệu cụ thể để chứng minh. Tuy nhiên trong quá trình quản lý đất thì gia đình bà đã hưởng lợi từ việc trồng cây và khai thác hoa lợi trên đất nên xác định công sức đã được bù đắp.

Về phân chia hiện vật: Về nguyên tắc phân chia mỗi bên sẽ có ½ thửa đất tương ứng 41m². Song theo Quyết định số: 27/2024/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh H quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024 và Nghị định số 102/2024/NĐ-CP30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ. Quy định về việc tách thửa cụ thể như sau:

Tại khoản 2 Điều 12 quy định về diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa đối với đất ở theo quy định tại khoản 4 Điều 220 Luật Đất đai: “Đối với các thửa đất ở tại nông thôn: Diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách thửa là 40m² (bốn

mươi mét vuông); kích thước cạnh mặt đường và chiều sâu tối thiểu là 04m (bốn mét)”. Ngoài ra tại Điều 14 của Quyết định 27 quy định về diện tích đất tối thiểu để được tách thửa đối với đất nông nghiệp thì diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách phải là 250m².

Trên thực tế, thửa đất tranh chấp có chiều rộng mặt đường 6 mét và có diện tích 82m² thuộc loại đất trồng cây hàng năm khác (đất nông nghiệp) nên không đủ điều kiện để tách thửa theo quy định. Hiện gia đình bà K là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 2002 cho đến nay đồng thời đang trồng cây canh tác trên đất. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự và theo quy định của pháp luật, cần giao toàn bộ phần đất trên cho gia đình bà K tiếp tục quản lý, sử dụng. Gia đình bà K phải thanh toán trả phần tài sản của vợ chồng chị H, anh B bằng tiền với số tiền là 5.125.000 đồng.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với một phần bản án số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là có căn cứ, được chấp nhận.

Kháng cáo của bà K là không được chấp nhận.

[3]. Về án phí và chi phí tố tụng khác:

Án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bà K không phải chịu án phí phúc thẩm.

Đối với chi phí tố tụng khác gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định hết 6.030.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải thanh toán trả nguyên đơn toàn bộ số tiền chi phí tố tụng 6.030.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 147, 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 158, Điều 163, Điều 166, Điều 207, Điều 208, Điều 209, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với một phần bản án số 05/2025/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị K. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST

ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên như sau:

  1. Xác định thửa đất số 166, tờ bản đồ số 21, diện tích 97,7m² theo bản đồ năm 2018 (diện tích theo kết quả thẩm định 82m²) tại thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên là tài sản chung của vợ chồng bà K, ông C và vợ chồng chị H, anh B. Vợ chồng bà K và vợ chồng chị H mỗi bên có phần quyền tài sản là ½ thửa đất.
  2. Giao toàn bộ thửa đất số 166, tờ bản đồ số 21, diện tích theo kết quả thẩm định 82m² tại thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên cho gia đình bà Nguyễn Thị K quản lý, sử dụng.

    Gia đình bà K được quyền quản lý, sử dụng các tài sản trên đất đồng thời có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét về hậu quả của việc thuê thầu và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    (Có sơ đồ kèm theo)

  3. Buộc bà Nguyễn Thị K, chị Trịnh Thị M, anh Trịnh Văn T phải trả chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn B giá trị ½ thửa đất tranh chấp với số tiền 5.125.000 đồng.
  4. Về án phí, chi phí tố tụng khác:
    • 4.1. Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị K, chị Trịnh Thị M, anh Trịnh Văn T mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

      Chị Nguyễn Thị H5 không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả chị Trần Thị H 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu số 14693, ngày 24/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

    • 4.2. Án phí phúc thẩm:

      Bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả bà K 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 4026 ngày 17/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

    • 4.3. Về chi phí tố tụng khác:

      Bà Nguyễn Thị K phải thanh toán trả chị Trần Thị H 6.030.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và giám định.

      Trả lại chị Trần Thị H số tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa là 7.970.000 đồng (bẩy triệu chín trăm bẩy mươi nghìn đồng). Xác nhận chị H đã nhận đủ.

  5. Đối với các khoản tiền phải trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải

chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 35/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ H, K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger