Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/DS-PT

Ngày: 25/02/2025

V/v “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Văn Duy

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Hiệp

Ông Thái Văn Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Xuân Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số:157/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số: 310/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 157/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Đình H, sinh năm 1961 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

* Bị đơn:

  1. Chị Liễu Thị Hoàng K, sinh năm 1986 (có mặt)
  2. Địa chỉ: G T, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.

  3. Ông Liễu Kim M, sinh năm 1962 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị K1, sinh năm 1964 (có mặt)
  2. Anh Liễu Hoàng V, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
  3. Chị Liễu Thị Tường V1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  4. Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

  5. Chị Liễu Thị Hoàng D, sinh năm 1984 (có mặt)
  6. Địa chỉ: A T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

2

* Người kháng cáo: Bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2022 và bản tự khai nguyên đơn ông Trần Đình H trình bày:

Thửa đất 468, tờ bản đồ số 17 tại phường H có nguồn gốc của cha mẹ ông sử dụng từ trước năm 1975, sau đó nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Đình H1 là cha ruột ông, sau khi ông H1 chết thì mẹ ông là bà Võ Thị Q đứng tên chủ sở hữu. Tháng 8/2022 bà Q làm tặng cho toàn bộ thửa đất cho ông. Liền kề với thửa đất của ông là thửa đất 1429 có nguồn gốc của hộ ông Liễu Kim M, ông M đã làm thủ tục sang nhượng cho chị Liễu Thị Hoàng K và thửa đất 406 (VN2000) đứng tên hộ ông Liễu Kim M. Các thửa đất này trước đây không làm hàng rào, năm 2021 ông phát hiện thửa đất 1429 của bà K và thửa đất 406 của hộ ông M làm hàng rào lấn sang thửa đất 468 của ông, ông đã gửi đơn gửi đến UBND phường H nhưng không thành, nay ông yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị Liễu Thị Hoàng K và gia đình ông Liễu Kim M trả lại diện tích đất lấn chiếm của thửa đất 468, tờ bản đồ số 17 cho ông.

Ngày 31/7/2024, ông Trần Đình H có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tranh chấp giữa thửa đất 468 của ông và thửa đất 406 của hộ ông Liễu Kim M, không yêu cầu Toà án giải quyết phần tranh chấp của hai thửa đất này.

* Bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K trình bày: Thửa đất 1429 có nguồn gốc của ông bà chị, sau đó sang tên cho cha chị là ông Liễu Kim M, đến năm 2018 ông M tặng cho chị 970m² đất vườn được tách thành thửa đất 1429, về mặt giấy tờ thửa đất 1429 đứng tên chị nhưng thực tế ông M vẫn là người sử dụng trồng cây ăn trái trên đất. Còn thửa đất 468 của ông Trần Đình H đang tranh chấp với gia đình chị là có nguồn gốc của gia đình chị cho gia đình ông H ở nhờ từ thời trước đây, chị không hiểu lý do sao nhà nước cấp toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho ông H. Nay ông H yêu cầu như thế chị và gia đình chị không đồng ý, yêu cầu Toà án xem xét giải quyết cho đúng quy định.

* Bị đơn ông Liễu Kim M trình bày: Thửa đất 371, tờ bản đồ số 10 (BĐ 1997) hiện nay là thửa 406 (VN-2000) có nguồn gốc của ông bà ông, sau đó nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông, sử dụng ổn định lâu nay không có xâm phạm gì qua thửa đất 468 của ông H, trên phần đất đang tranh chấp có 01 cây dừa gia đình ông trồng lâu nay, nay nếu ông H cho rằng cây dừa này là của ông H trồng thì ông để cho ông H sử dụng, còn phần đất là của gia đình ông. Đối với thửa đất 1429 đã sang nhượng cho chị Liễu Thị Hoàng K, số cây trồng trên đất là do ông trồng, phần đất ông H khởi kiện là có nguồn gốc gia đình ông cho ở nhờ, nhưng không biết nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, gia đình ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, yêu cầu Toà án xem xét giải quyết cho đúng quy định.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

3

Bà Ngô Thị K1 trình bày: Thửa đất 371, tờ bản đồ số 10 (BĐ 1997) hiện nay là thửa 406 (VN-2000) đứng tên hộ ông Liễu Kim M, bà Ngô Thị K1 và thửa đất 1429 đứng tên Liễu Thị Hoàng K là gia đình bà sử dụng từ lâu, liền kề với hai thửa đất trên là thửa đất của ông H, lâu nay hai gia đình sử dụng ổn định, không hiểu vì sao ông H lại cho rằng gia đình bà lấn đất của ông H, nguồn gốc đất ông H đang ở cũng là gia đình bà cho ở nhờ rồi được nhà nước cấp đất. Nay bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, yêu cầu Toà án xem xét nguồn gốc sử dụng đất của hai bên để giải quyết cho đúng quy định.

Chị Liễu Thị Hoàng D, Liễu Thị Tường V1 trình bày: Nguồn gốc thửa đất ông Trần Đình H đang kiện là của ông bà chị cho cha mẹ ông H ở nhờ từ trước, nay ông H có sổ đỏ rồi đi kiện gia đình chị là không đúng, chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H. Nay chị thống nhất với ý kiến và yêu cầu của chị Liễu Thị Hoàng K, yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.

Anh Liễu Hoàng V trình bày: Gia đình anh không lấn, chiếm đất gì với gia đình ông H, anh thống nhất với ý kiến của ông Liễu Kim M, yêu cầu Toà án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho gia đình anh, yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng ông Trần Đình N, Trần Đình L, Trần Đình T, Trần Đình L1 đều trình bày: Thửa đất 468, tờ bản đồ số 17 tại khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định được nhà nước cấp cho bà Võ Thị Q có diện tích 736m², năm 2022 bà Q và các thành viên trong hộ gia đình làm thủ tục tặng cho ông Trần Đình H, nay ông H tranh chấp đất với gia đình ông M các ông thống nhất với ý kiến của ông H, để ông H toàn quyền quyết định, không có ý kiến gì khác. Các ông yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 310/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 165; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 164; Điều 166; Điều 175 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 166; 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Đình H.

1.1 Buộc chị Liễu Thị Hoàng K trả lại 163,8m² đất của thửa 468 tờ bản đồ số 17 (VN B) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định cho ông Trần Đình H có kích thước và giới cận như sau:

  • Phía Bắc giáp thửa 1429 gồm 2 đoạn dài 7,82m; 11,26m.
  • Phía Đông giáp thửa 1429 dài 6,24m.

4

  • Phía Nam giáp thửa 468 gồm 2 đoạn dài 14,89m; 7,46m.
  • Phía Tây giáp thửa 406 gồm 2 đoạn dài 10,16m; 0,87m.

1.2. Ông Trần Đình H được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 13,1m²của thửa 468 tờ bản đồ số 17 (VN B) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Địnhcó kích thước và giới cận như sau:

  • Phía Đông - Bắc giáp thửa 1429 dài 15,29m.
  • Phía Nam giáp thửa 468 dài 1,87m.
  • Phía Tây - Nam giáp thửa 468 dài 14,66m.

(Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

1.3. Buộc chị Liễu Thị Hoàng K, ông Liễu Kim M di dời tài sản trên diện tích đất tranh chấp 163,8m² của thửa 468 tờ bản đồ số 17 (VN B) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, gồm hàng rào lưới B40 dài 22,35m, 07 cây dừa xiêm, 07 cây bưởi, 11 bụi chuối, 01 cây sầu đâu có 04 thân.

2. Đình chỉ yêu cầu đình chỉ xét xử đối với phần tranh chấp của thửa đất 468, tờ bản đồ số 17 (VN B) và thửa đất 406, tờ bản đồ số 17 (VN-2000) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K kháng cáo không đồng ý trả lại cho ông Trần Đình H 163,8m² đất; không đồng ý di dời tài sản trên đất tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm chị Kim G nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Liễu Hoàng V và chị Liễu Thị Tường V1 vắng mặt lần 2. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nêu trên.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K, thấy rằng:

5

[2.1] Nguồn gốc thửa đất số 468, tờ bản đồ 17 (VN-2000), diện tích 736m² tại thôn B, xã H, huyện H (nay là khu phố B, phường H, thị xã H) được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Võ Thị Q (là mẹ ruột ông Trần Đình H), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H03505 ngày 22/10/2007. Năm 2022, hộ bà Q lập hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất trên cho ông Trần Đình H.

[2.2] Đối với thửa đất 1429, tờ bản đồ số 17 của chị Liễu Thị Hoàng K: Hộ ông Liễu Kim M được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 407 (V -2000) diện tích 2.326 m² (200m đất ở, 2.126m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn B, xã H, huyện H (nay là khu phố B, phường H, thị xã H). Năm 2018, hộ ông M lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 970,6m² thuộc một phần thửa đất 407, tờ bản đồ số 17 (VN-2000) cho chị Liễu Thị Hoàng K. Ngày 08/11/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02498 thửa đất 1429, tờ bản đồ số 17 (VN-2000), diện tích đất 970,6m² cho chị K.

[2.3] Các thửa đất 468, diện tích 736m² của ông Trần Đình H và thửa đất 1429, diện tích 970,6m² của chị Liễu Thị Hoàng K nằm liền kề với nhau. Qua kiểm tra đo đạc thực tế, thửa đất số 468 của ông H đang sử dụng có diện tích 525,4m² thiếu 210,6 m² so với diện tích ông H được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa đất 1429 của chị K đang sử dụng có diện tích 1.146,9 m² tăng 176,3 m² so với diện tích đất chị K được cấp. Căn cứ sơ đồ hiện trạng và hồ sơ địa chính các thửa đất tranh chấp, văn bản số 3308/UBND-TNMT ngày 25/10/2023 của Ủy ban nhân dân thị xã H, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp phía Bắc của thửa 468 giáp với phía Nam của thửa 1429 có diện tích tranh chấp 163,8m² hiện chị K đang quản lý, sử dụng là thuộc thửa đất 468 của ông Trần Đình H; phần đất tranh chấp phía Đông của thửa 468 giáp với phía Tây của thửa 1429 có diện tích 13,1m² hiện ông H đang quản lý sử dụng là thuộc của thửa đất 468 của ông Trần Đình H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H, buộc chị Liễu Thị Hoàng K trả lại cho ông H 163,8m² đất của thửa 468 tờ bản đồ số 17 (VN B) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định và di dời tài sản trên diện tích đất tranh chấp là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị K kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K không được chấp nhận nên chị K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định

6

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 148, Điều 157; Điều 165; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 164; Điều 166; Điều 175 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 166; 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 310/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Đình H.

1.1. Buộc chị Liễu Thị Hoàng K trả lại cho ông Trần Đình H 163,8m² đất của thửa 468 tờ bản đồ số 17 (VN B) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định có kích thước và giới cận như sau:

  • Phía Bắc giáp thửa 1429 gồm 2 đoạn dài 7,82m; 11,26m.
  • Phía Đông giáp thửa 1429 dài 6,24m.
  • Phía Nam giáp thửa 468 gồm 2 đoạn dài 14,89m; 7,46m.
  • Phía Tây giáp thửa 406 gồm 2 đoạn dài 10,16m; 0,87m.

(Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

1.2. Buộc chị Liễu Thị Hoàng K, ông Liễu Kim M di dời tài sản trên diện tích đất tranh chấp 163,8m² của thửa 468 tờ bản đồ số 17 (VN B) phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, gồm hàng rào lưới B40 dài 22,35m, 07 cây dừa xiêm, 07 cây bưởi, 11 bụi chuối, 01 cây sầu đâu có 04 thân.

2. Án phí phúc thẩm: Bị đơn chị Liễu Thị Hoàng K phải chịu 300.000đ nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng áp phí số 0006694 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

7

4.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4.2. Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

T1

8

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND thị xã Hoài Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 35/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dspt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger