|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/DS-PT Ngày: 24-02-2025 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Bùi Đăng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17/02/2025 và 24/2/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 227/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bắc Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Dụng Thanh T, sinh năm 1982, địa chỉ: Số D, khu dân cư H, thôn L, xã H, huyện H, Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Hồ Văn N, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Huyền L, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Minh S, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Văn K - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư B1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Số D KDC H, thôn L, xã H, huyện H, Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt: Bà Phạm Thị Thanh T1, ông Hồ Văn N, ông Hoàng Minh S, luật sư Lê Văn K; các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Trước năm 2015, khi ông Dụng Thanh T còn làm tại Ngân hàng và có quen với ông T3 làm kế toán trưởng tại Công ty của ông N, bà L. Qua sự giới thiệu của ông T3 thì ông N có vay tiền của ông T vài lần với số tiền vài trăm triệu, sau đó ông N trả nợ gốc và lãi đầy đủ.
Cuối năm 2015, vì các bên có tin tưởng lẫn nhau nên ông N có đặt vấn đề vay mượn của ông T với số tiền lớn để làm dự án tại xã P, khi nào dự án này được Ngân hàng giải ngân thì lấy số tiền đó trả cho ông T, vì quá tin tưởng ông N nên ông T đã nhiều lần cho ông N, bà L vay, cụ thể như sau:
- + Ngày 17/12/2015 vay 500.000.000 đồng.
- + Ngày 01/01/2016 vay 500.000.000 đồng.
- + Ngày 07/01/2016 vay 500.000.000 đồng.
- + Ngày 27/01/2016 vay 1.900.000.000 đồng.
- + Ngày 02/02/2016 vay 600.000.000 đồng.
- + Ngày 16/02/2016 vay 352.000.000 đồng.
- + Ngày 26/02/2016 vay 600.000.000 đồng.
- + Ngày 15/03/2016 vay 1.027.000 đồng.
Tổng cộng ông N đứng tên vay tiền của ông T 08 lần tính đến ngày 15/3/2016 là 5.979.000.000 đồng.
Sau khi ông N vay 07 lần thì đến ngày 15/3/2016 là ngày ông N trực tiếp vay cuối cùng. Lúc này ông N có nói với ông T là do ông N có công việc phải trở về Bắc nên những lần vay sau vợ của ông N là bà Nguyễn Thị Huyền L giao dịch với ông T và ông N có ghi mặt sau hợp đồng vay ngày 15/3/2016 là “chốt đến ngày 15/3/2016", ông N ký tên giao cho ông T giữ. Nội dung tại mặt sau hợp đồng ngày 15/3/2016 chỉ thể hiện chốt ngày ông N không giao dịch với ông T mà sẽ do bà L phụ trách việc này chứ không phải chốt số tiền của ông nhung vay đến ngày 15/3/2016. Mỗi hợp đồng ông N vay đều độc lập và đến nay ông N vẫn chưa trả gốc và lãi.
Trước khi ông N chốt vào ngày 15/3/2016 là ông N không giao dịch với ông T nữa thì bà L đã vay của ông T 03 lần vào các ngày 04/02/2016, ngày 07/3/2016 và ngày 08/3/2016 với số tiền là 1.621.000.000 đồng. Kể từ ngày 25/3/2016 bà Nguyễn Thị Huyền L tiếp tục vay thêm 16 lần với tổng cộng số tiền
là 28.085.000.000 đồng. Sau đó ông T nhiều lần đòi mà không thấy trả thì bà L có hẹn gặp ông T cùng nhau bàn bạc thống nhất là tiền nợ gốc và tiền lãi của bà L vay, tiền lãi của ông N vay sẽ được ghi bằng một hợp đồng mới với số tiền là 35 tỷ đồng. Lý do chốt lại phần nợ này là những lần vay nợ của ông N đã có giấy tờ rõ ràng nhưng phần lãi chưa trả, những lần vay nợ của bà L đều có giấy tờ nhưng theo yêu cầu của bà L sẽ chốt lại tổng số nợ cho bà cùng với lãi phần ông N chưa trả để ghi vào một hợp đồng cho dễ tính toán về sau. Đối với phần lãi suất 6% tại hợp đồng 22/10/2016 là bà L tự ghi, nhưng trên thực tế thì ông N, bà L chưa trả số tiền gốc và lãi cho ông T.
Các lần vay tiền đều có hợp đồng cho vay (những hợp đồng được in sẵn, nội dung cần thiết sẽ viết chữ vào, ông N nhận tiền thì ông N tự ghi và tự ký, bà L nhận tiền thì bà L tự ghi tự ký), sau khi nhận tiền vay thì ông N và bà L sẽ ký vào hợp đồng vay. Lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/tháng. Sau khi ông T có Đơn tố cáo đến Công an tỉnh B thì vợ chồng ông N và bà L mới trả được số tiền là 2.050.000.000 đồng, đây là tiền lãi ông N, bà L trả cho ông T (chuyển khoản nhiều lần và tiền mặt 01 lần). ông T đồng ý khấu trừ số tiền 2.050.000.000 đồng do vợ chồng ông N, bà L đã trả cho ông T.
Về các số lẻ trong việc vay mượn tiền là do phía bị đơn yêu cầu ông T cho vay bao nhiêu thì ông T cho vay bấy nhiêu, không phải tính lãi gộp vào số tiền gốc vì họ chưa từng trả lãi cho ông T kể từ khi vay mượn. Lý do chưa trả tiền mà ông T lại tiếp tục cho vay vì họ nói dự án sắp giải ngân sẽ trả luôn một lần, hơn nữa ông T đã cho vay nhiều lần mà chưa lấy được tiền nên mới tiếp tục cho vay thêm để dự án hoàn chỉnh thì Ngân hàng mới giải ngân, lúc đó mới lấy được tiền.
Về nguồn gốc số tiền mà ông T đã cho vợ chồng ông N và bà L vay là tiền của vợ chồng ông T, tiền ông T tự vay Ngân hàng và vay một số người khác để đưa cho vợ chồng ông N và bà L làm dự án.
Nay ông T yêu cầu vợ chồng ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L phải trả cho vợ chồng ông Dụng Thanh T với số tiền là 35.685.000.000 đồng (Ba mươi lăm tỷ sáu trăm tám mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Hồ Văn N trình bày:
ông và bà Nguyễn Thị Huyền L là vợ chồng. Trước năm 2015, ông có quen biết với ông T (lúc này ông T đang làm tại Ngân hàng L2, chi nhánh B2) thông qua kế toán trưởng tại Công ty của ông là ông Nguyễn Thanh T3 (đã chết).
Cuối năm 2015, ông có vay của ông thuyết 04 lần với tổng cộng số tiền là 1.900.000.000 đồng, những lần vay tiền thì ông không nhớ rõ ngày tháng còn số tiền vay mỗi lần như sau:
- Lần 01 (Tháng 12/2015): Số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)
- Lần 02 (Tháng 12/2015): Số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng)
- Lần 03 (Tháng 01/2016): Số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)
- Lần 04 (Tháng 01/2016): Số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)
Mục đích vay số tiền này là để đáo hạn Ngân hàng.
Thời điểm vay số tiền này thì lãi suất thỏa thuận bên ngoài, bao nhiêu thì ông không nhớ rõ, ông T tính bao nhiêu ông trả bấy nhiêu vì lúc đó đang cần tiền. Khi vay thì ông T đã đánh sẵn hợp đồng vay tiền, số tiền còn ông ghi vào phần đầu của hợp đồng và ký vào bên vay tiền. Sau khi vay số tiền này thì ông đã trả hết cho ông T, ông không còn nợ tiền gì của ông T vì đây là tiền mượn đáo hạn Ngân hàng, khi ngân hàng cho vay lại thì ông T là người rút tiền ra để khấu trừ số tiền vay này của ông, ông không có chứng cứ nào để chứng minh đã trả tiền cho ông T.
Số tiền 2.050.000.000 đồng là tiền lãi mà vợ chồng ông đã trả cho ông T, đây là tiền có hóa đơn, ngoài ra vợ chồng ông còn trả cho ông T khoảng 2.000.000.000 đồng không có hóa đơn.
Số tiền 2.050.000.000 đồng đã trả cho ông T thì ông không biết ông trả lãi trên là số tiền gốc nào vì lúc đó ông đang làm Dự án trại heo mà ông T cứ cho người đến nhà ông quậy phá, đòi nợ nên ông trả cho xong để đỡ lằn nhằn. Ngoài ra ông không lý giải được.
Ông không biết vì sao lại có đến 08 hợp đồng vay tiền có chữ ký của ông. Ông xác định chữ viết và chữ ký trong 08 hợp đồng vay tiền này là của ông. Ông chỉ thừa nhận 03 tờ giấy vay tiền ngày 17/12/2015, ngày 01/01/2016 và ngày 07/01/2016, số tiền 1.900.000.000 đồng là giấy vay gộp 03 tờ trên với một tờ giấy vay số tiền 400.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ chứng minh.
Nay ông Dụng Thanh T yêu cầu vợ chồng ông phải trả số tiền 35.685.000.000 đồng và tính lãi theo quy định của pháp luật thì ông không đồng ý.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền L và người đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày:
Bà Nguyễn Thị Huyền L và ông Hồ Văn N là vợ chồng. Bà L quen biết ông T thông qua chồng bà L (ông N). Bà L không có vay tiền của ông T. Chồng bà L (ông N) là người vay tiền của ông T, số tiền bà L không biết chính xác, chỉ biết khoảng 1.900.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, vay vào cuối năm 2015 và đầu năm 2016, mục đích vay tiền này để đáo hạn Ngân hàng. Theo bà L được biết thì sau khi vay số tiền này ông N đã trả tiền cho ông T. Bà L có chuẩn bị tiền cho ông N đi trả cho ông T còn việc trả số tiền này ở đâu, như thế nào thì bà L không rõ.
Đối với 19 tờ giấy vay tiền từ ngày 04/02/2016 đến ngày 12/7/2016 thì bà L xác định bà L có viết tên vào phần đầu giấy vay và ký tên vào phần cuối giấy vay, còn số tiền trong giấy vay là do ông T đánh máy sẵn, có giấy vay thì để trống và do người nào đó ghi số tiền vào. Các giấy vay tiền này đều là số tiền lãi mà ông N phải trả cho ông T trên số tiền gốc đã vay trước đó.
Về tờ giấy vay tiền 22/10/2016, bà L cho rằng do ông T đe dọa, ép buộc bà L ghi tên và ký vào giấy vay, bà L xin lấy lãi 6%/tháng, ông T đồng ý nên bà L đã
ghi “6 phần trăm 1 tháng” vào phần lãi suất, lúc này phần số tiền thì để trống. Sau ngày ký giấy này thì ông T là người ghi số tiền 35.000.000.000 đồng vào giấy và báo cho bà L biết là đã tổng hợp các tờ giấy vay tiền trước đó nên các tờ giấy là 19 hợp đồng vay tiền có chữ ký của bà L không còn giá trị. Nội dung này ông T có ghi vào mặt sau của tờ giấy vay ngày 22/10/2016. Khoảng hai tháng sau, ông T mới giao tờ giấy này cho vợ chồng bà L. Bà L sẽ cung cấp các giấy tờ để Tòa án xem xét. Việc ký giấy này tại nhà ông T, do bà L bị đe dọa nên bà L đã đồng ý ký. Bà L sẽ cung cấp các chứng cứ bị đe dọa cho Tòa án.
Đối với số tiền 2.050.000.000 đồng mà ông N, bà L đã chuyển trả cho ông T là tiền lãi, số tiền lãi này xuất phát từ số tiền gốc mà ông N đã vay trước đó. Bà L, ông N cứ trả lãi liên tục do phía ông T lúc nào cũng đòi tiền làm bà L, ông N không còn tâm trí để làm ăn. Đây chỉ là số tiền lãi mà có chứng từ chứng minh còn những lần ông N, bà L trả lãi không có giấy tờ là hơn 4.000.000.000 đồng. Bà L, ông N không xác định được mức lãi suất là bao nhiêu, chỉ biết ông T báo cho ông N, bà L trả bao nhiêu tiền thì ông N, bà L cứ trả, có bao nhiêu ông N, bà L trả bấy nhiêu cho yên ổn làm ăn.
Khi bà L ký vào các giấy vay tiền thì bà L không đọc nội dung của tờ giấy nhưng bà L biết các giấy này đều thể hiện là nợ lãi từ số tiền gốc mà ông N đã vay trước đó là 2.000.000.000 đồng, mà ông N, bà L sẽ phải trả cho ông T. Cứ cách khoảng một tuần, 10 ngày là phải ký một tờ giấy do ông T đưa ra. Mục đích bà L ký giấy là để ông T không phải quấy rầy bà L đề vợ chồng bà L làm ăn vì danh dự của doanh nghiệp.
Nay ông Dụng Thanh T yêu cầu vợ chồng ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L phải trả số tiền 35.685.000.000 đồng và tính lãi theo quy định của pháp luật thì bà Nguyễn Thị Huyền L không đồng ý trả số tiền trên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Xuân T2 và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà T2 là vợ của ông Dụng Thanh T. Vào cuối năm 2015, ông Hồ Văn N có đến gặp chồng bà T2 là ông Dụng Thanh T để hỏi vay tiền làm ăn. Ông T có bàn với bà T2 và bà T2 đồng ý để ông T tự quyết định trong giao dịch, làm ăn với bên ông N, bà L. Số tiền cho vợ chồng ông N, bà L vay là rất lớn, trong đó một phần là của vợ chồng bà T2, một phần do vợ chồng bà T2 vay của người thân, bạn bè. Vợ chồng bà T2 thỏa thuận và thống nhất giao cho một mình ông T đứng ra thỏa thuận, ký kết hợp đồng cho ông N, bà L vay tiền. Nay bà T2 vẫn thống nhất giao toàn quyền cho ông T quyết định mọi vấn đề trong việc khởi kiện ông N, bà L ra Tòa. Bà T2 cam kết không khiếu nại đối với quyết định của ông T.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T2 bổ sung: Bà T2 đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông N, bà L phải trả cho vợ chồng bà T2, ông T số tiền là 35.685.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dụng Thanh T.
Buộc vợ chồng ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Dụng Thanh T số tiền 1.314.560.000 đồng. Trong đó gốc là 1.027.000.000 đồng và lãi 287.560.000 đồng. Trong đó gốc là 1.027.000.000 đồng và lãi 287.560.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí, quyền kháng cáo và thi hành bản án.
Ngày 03/12/2018, nguyên đơn ông Dụng Thanh T kháng cáo.
Ngày 19/12/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận kháng nghị bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2019/DS-PT ngày 09/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Dụng Thanh T.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình. Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dụng Thanh T về việc buộc Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L phải liên đới trả 40.979.000.000 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dụng Thanh T, buộc ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Dụng Thanh T số tiền 1.314.560.000 đồng. Trong đó gốc là 1.027.000.000 đồng và lãi 287.560.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án phúc thẩm còn quyết định về lãi suất chậm trả, án phí, hiệu lực và thi hành bản án.
Ngày 05/6/2019, ông Dụng Thanh T đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm và ngày 23/5/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Ngày 25/10/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 237/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 25/10/2019 kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2019/DS-PT ngày 09/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 287/2019/DS-GĐT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 237/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 25/10/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2019/DS-PT ngày 09/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2018/DS-ST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 30/8/2024, Toà án nhân dân huyện Bắc Bình đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm lần 2. Tại Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dụng Thanh T, buộc vợ chồng ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L phải có nghĩa vụ trả cho ông Dụng Thanh T số tiền 92.749.920.000 đồng (Chín mươi hai tỷ, bày trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng, trong đó tiền gốc là 35.685.000.000 đồng, tiền lãi 57.064.920.000 đồng).
Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án (Đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03/9/2024, bị đơn ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Dụng Thanh T và bà Nguyễn Xuân T2 trình bày: Yêu cầu vợ chồng ông N, bà L phải trả cho vợ chồng ông T, bà T2 số tiền gốc 35.685.000.000đ và tiền lãi từ khi vay đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 13,5%/năm.
- Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Với các chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra, có đầy đủ căn cứ khẳng định bị đơn có vay tiền của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất là 13,5%/năm (sơ thẩm yêu cầu tính lãi 20%/năm). Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tính lại lãi suất 13,5% như yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên tòa phúc thẩm, Căn cứ kết quả tranh tụng và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nhu cầu vay vốn của vợ chồng bị đơn: Theo trình bày của ông Dụng Thanh T, thì chỉ trong thời gian ngắn từ ngày 17/12/2015 đến ngày 18/7/2016 (7 tháng), ông T đã 8 lần cho ông N vay tiền và 19 lần cho bà L vay tiền, với tổng số tiền là 35.685.000.000đ. ông T cho rằng vợ chồng ông N, bà L vay vốn để thực hiện dự án nhà máy gạch không nung tại xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận của Công ty Cổ phần S1, do ông N là Chủ tịch Hội đồng quản trị làm đại diện. Theo các tài liệu mà nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 20/5/2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B có văn bản gửi UBND tỉnh B đồng ý cho Công ty V hồ sơ đầu tư nhà máy gạch không nung tại thốc D, xã P, tại vị trí 5 ha nằm trong khu đất có diện tích 29,06 ha được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Văn N, Chủ tịch HĐQT Công ty S1. Theo bản đề xuất dự án đầu tư và thiết kế dự án đầu tư của Công ty S1, thì tổng số vốn đầu tư là 150.000.000.000 đồng, trong đó vốn vay là 120.000.000.000 đồng. Ngày 15/01/2016, Ngân hàng P, chi nhánh B2 có văn bản gửi Công ty S1 với nội dung: Dự án xây dựng nhà máy gạch không nung của Công ty Cổ phần S2 đối tượng được vay vốn tín dụng đầu tư ban hành theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Do vậy, nguyên đơn trình bày trong giai đoạn năm 2015, 2016, trong khi chờ ngân hàng giải ngân, vợ chồng ông N, bà L có nhu cầu vay vốn với số tiền lớn là có căn cứ.
[2] Xét hợp đồng vay giữa ông T và ông N
Nguyên đơn cung cấp 8 hợp đồng vay giữa nguyên đơn và ông N từ ngày 17/12/2015 đến ngày 15/3/2016, với tổng số tiền là 5.979.000.000đ. Ông N thừa nhận chữ ký, chữ viết họ và tên của ông trong các hợp đồng vay này.
Ông N thừa nhận có vay của ông T 3.100.000.000 đồng theo các hợp đồng vay ngày 17/12/2015, 01/01/2016, 07/01/2016, 02/02/2016 và 26/02/2016. Trong số tiền này, ông N khai đã trả cho ông T 1.035.000.000 đ nhưng không được ông T thừa nhận và ông N không có tài liệu chứng minh, nên lời khai này không có căn cứ.
Ông N không thừa nhận khoản vay 1.900.000.000đ vào ngày 27/01/2016: ông N cho rằng đây là số tiền cộng dồn 1.500.000.000đ của các hợp đồng vay tiền ngày 17/12/2015, 01/01/2016, 07/01/2016 và 400.000.000₫ ông có vay ông T, nhưng ông T không khởi kiện trong vụ án này. Không thừa nhận khoản vay 352.000.000₫ ngày 16/2/2016 vì đây là khoản tiền lãi của khoản vay 600.000.000₫ ngày 02/02/2016. Lời khai của ông N không được ông T thừa nhận và ông N không có tài liệu chứng minh.
Đối với khoản vay ngày 15/3/2016 là 1.027.000.000đ: Mặt sau của tờ giấy vay này có ghi “chốt đến ngày 15/3/2016“. Lời khai của ông N có nhiều mâu thuẫn, cụ thể là: Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm lần 1, ông N cho rằng chốt đến ngày 15/3/2016 có nghĩa là tính đến thời điểm này, ông N chỉ nợ ông T 1.027.000.000₫ đồng. Tuy nhiên, tại biên bản đối chất ngày 17/01/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm lần này, ông N thừa nhận có vay của ông T 3.100.000.000đ, đã trả 1.035.000.000đ, còn nợ 2.065.000.000₫ và cho rằng khoản vay 1.027.000.000₫ đồng là tiền lãi của khoản vay trước đó. Hội đồng xét xử xét
thấy: Lời khai của ông N chỉ còn nợ của ông T 1.027.000.000đ thì nay ông N đã thay đổi và lời khai này cũng không có căn cứ, bởi vì đến tháng 11/2016, vợ chồng ông N đã trả cho ông T 2.050.000.000đ. Với với khoảng thời gian từ tháng 3/2016 đến tháng 11/2016, nếu tiền gốc chỉ còn 1.027.000.000đ, lãi suất 6% tháng (bà L ghi lãi suất 6%/tháng trong giấy chốt nợ ngày 22/10/2016) thì cả tiền gốc cộng tiền lãi cũng không tới số tiền 2.050.000.000đ. Do vậy, ý kiến cho rằng đến ngày 15/3/2016, ông N chỉ nợ ông T 1.027.000.000₫ là không có căn cứ.
Về ý kiến của ông N cho rằng số tiền 1.027.000.000₫ ngày 17/3/2016 là số tiền lãi của khoản vay trước đó. Tuy nhiên, ông N không nêu ra được là lãi của khoản vay nào, lãi suất là bao nhiêu, thời hạn vay từ khi nào đến ngày 15/3/2016 để ra số tiền 1.027.000.000đ. Do vậy lời khai này của ông N không có cơ chấp nhận.
Về nội dung ghi: Chốt đến ngày 15/3/2016, nguyên đơn cho rằng nội dung này chỉ là ghi chú sau thời điểm này ông N không trực tiếp vay tiền của ông T mà sẽ do bà L vợ ông N1 đứng tên vay. Xét thấy nội dung này không được ghi trong hợp đồng, mà chỉ là ghi chú ở mặt sau của hợp đồng nên không có căn cứ cho rằng các bên đã chốt nợ gốc hoặc nợ lãi tính đến ngày 15/3/2016. Giải thích của nguyên đơn về việc ghi mặt sau của giấy vay tiền chốt đến ngày 15/3/2016 như trên là có căn cứ vì từ sau thời điểm này, ông N không vay tiền của ông T mà do bà L vợ ông N ký giấy vay tiền.
Căn cứ vào các tài liệu mà nguyên đơn cung cấp và trình bày của các bên trong quá trình giải quyết vụ án, có căn cứ xác định ông N có vay của ông T 8 khoản vay, tổng cộng là 5.979.000.000₫ đến nay chưa trả. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền này là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Xét hợp đồng vay giữa ông T và bà L: 19 khoản vay từ ngày 04/2/2016 đến ngày 18/7/2016 với tổng số tiền là 29.706.000.000₫.
Bà L thừa nhận đã ký và ghi họ tên vào các hợp đồng nêu trên. Bà L và người đại diện ủy quyền cho rằng, bà L không vay tiền của ông T bất cứ khoản vay nào mà đây chỉ là các khoản tiền lãi từ số tiền vay của ông N; bà L ký tên vào hợp đồng vay là do ông T đe dọa. Hội đồng xét xử xét thấy bà L trình bày như trên là mâu thuẫn, không có căn cứ vì:
Tại Biên bản ghi lời khai của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh B (BL 424), bà L khai: Ngoài ra, tôi còn vay của T một số lần khác mà tôi không nhớ rõ ngày vay, sau này tổng hợp thành một giấy vay với số tiền là 1.500.000.000₫. Tông cộng tôi vay của T 4.000.000.000₫.
Về ý kiến của bà B L cho rằng trong các giấy vay tiền nêu trên không có nội dung nào ghi bên vay đã nhận đủ tiền, nên không có căn cứ cho rằng ông T đã giao tiền cho bà theo hợp đồng: Xét thấy, trong tất cả 8 hợp đồng vay của ông N và 19 hợp đồng vay của bà L đều không ghi bên vay đã nhận đủ tiền, nhưng chính ông N và bà L đã thừa nhận một số khoản vay của ông T. Tại cơ quan điều tra và tại biên bản đối chất ngày 17/01/2025, ông N trình bày phương thức vay tiền là người vay ký vào hợp đồng và nhận tiền. Do vậy, trong hợp đồng vay không ghi
bên vay đã nhận đủ tiền không có nghĩa là các bên chưa giao tiền cho nhau, vì đây là tập quán, phương thức vay mượn mà chính ông N cũng đã thừa nhận. Mặt khác, nếu hợp đồng vay lần đầu, bà L ký vào hợp đồng nhưng ông T không giao tiền thì tại sao bà L lại tiếp tục ký vào 18 hợp đồng tiếp theo mà cũng không có việc giao tiền.
Bà L khai khoản tiền trong hợp đồng là tiền lãi của các khoản vay của ông N. Xét thấy, trong 19 hợp đồng vay, có 3 hợp đồng vay trước ngày 15/3/2016, mà trước ngày này là do ông N trực tiếp vay. Có 16 hợp đồng vay sau ngày 15/3/2016 có số tiền vay nên đến 28.085.000.000₫ nên ông N, bà L trình bày các khoản vay của bà L là tiền vay của ông N chuyển qua và phải trả lãi suất cao là không có cơ sở, bà L không nêu được số tiền ông N đã vay, lãi suất thỏa thuận, thời gian vay là bao nhiêu để ra số tiền lãi tới gần 30 tỷ đồng.
Ngoài ra bà L còn cho rằng bà ký hợp đồng vay tiền là do bị ép buộc, ông T thuê xã hội đen đe dọa nên bà mới ký, đây chỉ là lời khai một phía, không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Mặt khác, bà L không chỉ ký hợp đồng 1 lần mà bà ký tới 20 lần (19 lần vay và 01 lần xác nhận nợ) vào khoảng thời gian khác nhau, và sau đó vợ chồng bà L đã chuyển trả tiền cho ông T. Nếu có việc đe dọa, ép buộc thì cũng chỉ có thể bị ép buộc một lần, không thể có chuyện đe dọa ép buộc trong cả 20 lần như bà trình bày. Do vậy, lời khai của bà L là không có căn cứ.
Ngoài 19 giấy vay tiền thì trong hợp đồng đề ngày 22/10/2016 (chốt nợ) bà L cũng đã ký giấy vay thừa nhận có nợ ông T số tiền 35 tỷ đồng. Trong bản ghi âm nguyên đơn cung cấp, bà L thừa nhận giọng nói của bà khi ông T nhắc đến số tiền này thì bà L hứa sẽ trả.
Vợ chồng ông N và bà L là những người kinh doanh, ông N là chủ tịch Hội đồng quản trị của nhiều doanh nghiệp, có hiểu biết, kiến thức về pháp luật. Với những chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra, có đầy đủ căn cứ xác định bà L đã vay của ông T trong 19 hợp đồng vay với tổng số tiền là 29.706.000.000đ.
Do vậy, nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn phải trả 35.685.000.000đ tiền gốc là có căn cứ.
[4] Về yêu cầu tính lãi:
Hợp đồng vay giữa ông T và vợ chồng ông N, bà L xác lập trước ngày 01/01/2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực). Hợp đồng này hai bên đang thực hiện. Trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận lãi, nhưng không ghi cụ thể lãi suất. Nguyên đơn khai lãi suất 2%/tháng, bị đơn khai lãi suất 0,8%/ngày (24%/tháng). Trong hợp đồng vay ngày 22/10/2016 (chốt nợ), bà L ghi lãi suất là 6%/tháng. Tuy các bên trình bày khác nhau về mức lãi suất nhưng đều thống nhất đây là hợp đồng vay có lãi, lãi suất các bên thỏa thuận trên 20%/năm. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Như vậy, việc các
bên thỏa thuận lãi suất quá 20%/năm là không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:
c) Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.
Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
Theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 thì: Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 công bố đối với loại cho vay tương ứng.
Thời điểm các bên xác lập hợp đồng, lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 công bố là 9%/năm. Do vậy, lãi suất được tính là 13,5%/năm. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tính mức lãi suất 20%/năm là không đúng quy định của pháp luật và không phù hợp với hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
Trong 27 hợp đồng vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn, các bên không thỏa thuận thời hạn trả nợ gốc, nên không phát sinh nợ gốc quá hạn. Do vậy, các khoản vay này chỉ tính lãi suất trên nợ gốc trong hạn là 13,5%/năm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định lại mức lãi suất, buộc bị đơn phải trả lãi với mức lãi suất 13,5%. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi cách tính lãi suất nhưng vẫn thuộc phạm vi khởi kiện ban đầu và mức lãi suất này phù hợp với quy định của pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền lãi của từng khoản vay được tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/8/2024) như sau:
- - Hợp đồng vay ngày 17/12/2015: Số tiền gốc là 500.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 257 ngày, tiền lãi là 587.527.397₫.
- - Hợp đồng vay ngày 01/01/2016: Số tiền gốc là 500.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 242 ngày, tiền lãi là 584.753.425₫.
- - Hợp đồng vay ngày 07/01/2016: Số tiền gốc là 500.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 236 ngày, tiền lãi là 583.643.836₫.
- - Hợp đồng vay ngày 27/01/2016: Số tiền gốc là 1.900.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 216 ngày, tiền lãi là 2.203.791.781₫.
- - Hợp đồng vay ngày 02/02/2016: Số tiền gốc là 600.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 210 ngày, tiền lãi là 694.602.740đ.
- - Hợp đồng vay ngày 16/02/2016: Số tiền gốc là 352.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm, 196 ngày, tiền lãi là 405.677.589₫.
- - Hợp đồng vay ngày 26/02/2016: Số tiền gốc là 600.000.000đ, thời gian tính lãi 8 năm 186 ngày, tiền lãi là 689.276.712₫.
- - Hợp đồng vay ngày 15/03/2016: Số tiền gốc là 1.027.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 168 ngày, tiền lãi là 1.172.974.685₫.
- - Hợp đồng vay ngày 04/02/2016: Số tiền gốc là 500.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 208 ngày, tiền lãi là 578.465.753₫.
- - Hợp đồng vay ngày 07/03/2016: Số tiền gốc là 321.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 176 ngày, tiền lãi là 367.575.781₫.
- - Hợp đồng vay ngày 08/03/2016: Số tiền gốc là 800.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 175 ngày, tiền lãi là 915.780.822₫.
- - Hợp đồng vay ngày 25/03/2016: Số tiền gốc là700.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 158 ngày, tiền lãi là 796.906.849₫.
- - Hợp đồng vay ngày 30/03/2016: Số tiền gốc là 473.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 153 ngày, tiền lãi là 537.606.616₫.
- - Hợp đồng vay ngày 04/04/2016: Số tiền gốc là 795.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 148 ngày, tiền lãi là 902.118.082₫.
- - Hợp đồng vay ngày 11/04/2016: Số tiền gốc là 10.768.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 141 ngày, tiền lãi là 12.190.998.575₫.
- - Hợp đồng vay ngày 19/04/2016: Số tiền gốc là775.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 133 ngày, tiền lãi là 875.123.630đ.
- - Hợp đồng vay ngày 29/04/2016: Số tiền gốc là 923.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 123 ngày, tiền lãi là 1.038.830.178₫.
- - Hợp đồng vay ngày 05/05/2016: Số tiền gốc là 1.500.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 117 ngày, tiền lãi là 1.684.910.959₫.
- - Hợp đồng vay ngày 09/05/2016: Số tiền gốc là 1.065.000.000 thời gian tính lãi là 8 năm 113 ngày, tiền lãi là 1.194.711.164₫.
- - Hợp đồng vay ngày 19/05/2016: Số tiền gốc là 1.203.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 103 ngày, tiền lãi là 1.345.069.356₫.
- - Hợp đồng vay ngày 29/05/2016: Số tiền gốc là 1.309.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 93 ngày, tiền lãi là 1.458.746.014₫.
- - Hợp đồng vay ngày 08/06/2016: Số tiền gốc là 1.415.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 83 ngày, tiền lãi là 1.571.638.562₫.
- - Hợp đồng vay ngày 18/06/2016: Số tiền gốc là 1.529.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 73 ngày, tiền lãi là 1.692.603.000₫.
- - Hợp đồng vay ngày 24/06/2016: Số tiền gốc là 200.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 67 ngày, tiền lãi là 220.956.164₫.
- - Hợp đồng vay ngày 28/06/2016: Số tiền gốc là 1.670.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 63 ngày, tiền lãi là 1.842.513.288₫.
- - Hợp đồng vay ngày 08/07/2016: Số tiền gốc là 1.810.000.000đ, thời gian tính lãi là 8 năm 53 ngày, tiền lãi là 1.990.280.959₫.
- - Hợp đồng vay ngày 18/07/2016: Số tiền gốc là 1.950.000.000 đ, thời gian tính lãi là 8 năm 43 ngày, tiền lãi là 2.137.013.014₫.
Tổng số tiền lãi phải trả đến 30/8/2024 là 40.264.096.932đ, tháng 11/2016, vợ chồng ông N bà L đã trả 2.050.000.000đ, số lãi còn phải trả là 38.214.096.932đ. Tổng cộng gốc và lãi là: 35.685.000.000₫ + 38.214.096.932₫ = 73.899.096.932₫.
[5] Tại đơn khởi kiện, ông T yêu cầu vợ chồng ông N, bà L phải trả tiền gốc và lãi cho ông T. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện ủy quyền của ông T và bà T2 (vợ ông T) yêu cầu bị đơn phải trả cho vợ chồng ông T, bà T2 tiền gốc và lãi. Đây là ý chí của đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về nội dung này.
[6] Về án phí: Ông N, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền 73.899.096.932₫ phải trả cho nguyên đơn, tiền án phí phải chịu là 181.899.000đ, chia phần ông N và bà L mỗi người phải chịu 90.949.000đ. Ông N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông N được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016. Do án sơ thẩm bị sửa nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dụng Thanh T, buộc vợ chồng ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L phải có nghĩa vụ trả cho ông Dụng Thanh T và bà Nguyễn Xuân T2 số tiền 73.899.096.932 đồng, trong đó tiền gốc là 35.685.000.000 đồng, tiền lãi là 38.214.096.932 đồng.
-
Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Hồ Văn N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bà Nguyễn Thị Huyền L phải chịu 90.949.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Ông Dụng Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông T số tiền 37.244.000 đồng ông T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015620 ngày 26/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Hồ Văn N và bà Nguyễn Thị Huyền L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bà L 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008978 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
Kể từ ngày 31/8/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy
định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 35/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dụng Thanh T - Hồ Văn N
