Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/DS - PT

Ngày 06/6/2025

V/v: Tranh chấp QSD đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bạch Thị Hồng Hoa

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tuấn

Bà Hoàng Ngọc Liễu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông

Lê Quý Thanh - kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 06/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2024/TLPT–DS ngày 11/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn Bà Quách Thị Đ đối với bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐ - PT ngày 02/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Quách Thị Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Số nhà A, đường T, tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Ông Nguyễn Hữu D; địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chi H, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình

Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Nguyễn Đức A, sinh năm 1990; địa chỉ: SN A, đường H, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đinh Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
  2. Bà Phùng Thị H1; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Người kháng cáo: Bà Quách Thị Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ, vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn bà Quách Thị Đ trình bày:

Ngày 26/5/2021, tôi có nhận chuyển nhượng thửa đất của bà Nguyễn Bích H2 sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ G, phường H, thành phố H, thửa đất số 49, tờ bản đồ số 38, diện tích 183m² loại đất ở, GCNQSD đất số BQ 198665, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 00654, do UBND thành phố H, tỉnh Hoà Bình cấp ngày 21/10/2013 mang tên Hoàng Thị N, với giá là 100.000.000đ ( Một trăm triệu đồng). Hai bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng tại Phòng C tỉnh Hoà Bình. Ngày 31/5/2021 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H xác nhận chuyển nhượng sang tên tôi là Quách Thị Đ (trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất- sau đây viết tắt là GCN QSDĐ). Chiều rộng mặt đường QL6 là 9m, chiều rộng mặt sau thửa đất là 9m, đất vuông vắn. Tứ cận thửa đất: Phía Đông Bắc giáp đường QL6. Phía Đông Nam giáp nhà bà Phùng Thị H1. Phía Tây Bắc giáp nhà ông H, bà L. Phía Tây Nam giáp đất nhà H3, T.

Khi mua bán có bàn giao đất cho nhau, không đo cụ thể diện tích đất, không có sự chứng kiến của các hộ giáp ranh. Trên đất không có tài sản gì. Xung quanh đất nhà tôi các hộ liền kề đều đã xây dựng nhà kiên cố. Sau khi mua bán xong tôi để đất trống, chưa sử dụng.

Phía đất giáp nhà anh H là ngôi nhà xây 2 tầng kiên cố, chủ cũ là ông P đã xây hết đất, ngôi nhà này hiện nay vợ chồng anh H đang ở. Năm 2022 anh H cơi nới phần bếp sang đất nhà tôi, tôi đã ngăn cản do tôi không ở đó nên khi vắng tôi anh H tiếp tục cơi nới thêm bếp lấn sang đất nhà tôi, tiếp đó anh H lại xây một tường 10, xây bằng gạch làm ranh giới ngăn cách đất nhà tôi với nhà anh H. Thấy vậy tôi có xuống để ngăn cản không cho anh H xây, hai bên đôi co, cãi cọ nhưng anh H vẫn cố tình xây tôi viết đơn yêu cầu UBND phường T can thiệp, nhưng phía UBND phường không giải quyết dứt điểm. Nay tôi đề nghị Toà án buộc anh H phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình tôi, đất nhà tôi chiều rộng mặt đường 9m, chiều rộng mặt sau 9m vuông vắn. Tổng diện tích theo bìa đỏ là 183m² và phá dỡ phần công trình xây dựng đang lấn sang diện tích thửa 49.

Bị đơn ông Nguyễn Chi H trình bày:

Khoảng tháng 02/2022 vợ chồng tôi có nhận chuyển nhượng nhà và đất của bà Hoàng Thị N sinh năm 1977, địa chỉ: T, phường T, thành phố H, thửa số 32, tờ bản đồ số 38, diện tích 77m² UBND huyện K, tỉnh Hoà Bình cấp GCNQSD đất số AO 042956, mang tên Hoàng Thị N. Với giá là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Hai bên chuyển nhượng có lập Hợp đồng chuyển nhượng tại phòng C tỉnh Hoà Bình.Tứ cận thửa đất: Phía Đông Bắc giáp đường QL6; phía Đông Nam giáp đất nhà bà Đ, phía T giáp nhà ông L1, phía Tây Nam giáp đất của phường đã phân lô bán nền.

Khi mua bán bà N có bàn giao cho tôi toàn bộ nhà 02 tầng và đất. Phía đất giáp ranh nhà bà Đ là tường bao xây xung quanh hết đất nhà tôi, xây bằng gạch bavanh để làm ranh giới đất hai nhà. Đất nhà bà Đ không sử dụng, trên đất không có tài sản gì. Sau khi mua xong tôi có sơn sửa lại để ở, phần tường bao giáp đất nhà bà Đ tôi xây cao lên ( xây chồng gạch lên tường cũ) và ở ổn định, không ai có ý kiến gì. Khi tôi mua tôi sử dụng đúng, đủ diện tích mà tôi được bàn giao theo hiện trạng, không lấn chiếm đất nhà bà Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị L ( vợ ông H):

Nhất trí như trình bày của ông H.

Kết quả đo đạc ngày 18/3/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H: Đất hộ bà Quách Thị Đ theo chỉ dẫn là 276m²; đất hộ ông Nguyễn Chi H là 130.1m². Diện tích đất tranh chấp là 12m².

Kết quả định giá đất 7.500.000đ/m2.

Kết quả thẩm định tại chỗ: Tài sản trên đất tranh chấp gồm có: Tường gạch chỉ đỏ (tường 10) dài 16,5m, cao trung bình 1,8m; chuồng cọp bằng sắt dài 5,9m x 0.8m; T1 nhà bếp xây bằng gạch chỉ đỏ dài 2,7m rộng 0,8m. Tài sản này do anh H xây dựng, các bên thống nhất không tranh chấp về tài sản, không tiến hành định giá.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Phùng Thị H1 trình bày:

Nguồn gốc đất bà chuyển nhượng cho một số người, người hiện tại đang sử dụng là bà Đ. Bà đã đo đủ đất cho bà Đ rồi mới xây nhà, nên bà không liên quan đến việc khởi kiện của bà Đ. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã xử: Căn cứ Khoản 2 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175, BLDS 2015; khoản 16, khoản 24 điều 3, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai 2013. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử: Bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà Quách Thị Đ ngày 02/11/2023 về việc: buộc ông Nguyễn Chi H phải trả cho bà diện tích 12m² đất và phá dỡ phần công trình xây dựng tường bao, chuồng cọp trên diện tích đất lấn chiếm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/8/2024 nguyên đơn Quách Thị Đ kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xét xử bản án theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của bà, buộc anh Nguyễn Chi Hoàn T2 lại cho bà 12m² đất và buộc tháo dỡ công trình đã xây lấn chiếm trên đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các nội dung:

  • Thứ nhất: Bà Đ mua thửa đất 49 trước khi ông H mua đất của chị N. Kể từ khi ông H chuyển đến ở, xây tường bao lên đất thì mới xảy ra tranh chấp do xây lấn sang đất bà Đ.
  • Thứ hai: Biên bản hòa giải tại UBND phường T tiến hành, ông H thừa nhận việc xây lấn đất.
  • Thứ ba: Quá trình giải quyết vụ án đã có Công văn trả lời của chi nhánh V đăng ký đất đai và tự tôi (trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Hữu D) đã trực tiếp tìm hồ sơ cùng cán bộ địa chính phường T nhưng không tìm thấy hố sơ cấp đất khi bà Hồng T3 chuyển nhượng. Đây là một trong những chứng cứ quan trọng cho việc giải quyết vụ án nhưng không tìm được.
  • Thứ tư: Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm chưa đo thử đất số 32 để biết cụ thể diện tích, thừa hay thiếu, có bị chồng lấn hay không.
  • Thứ năm: Thửa 32 cấp theo bản đồ cũ, không có thông số cạnh.

Từ các phân tích nêu trên đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện VKSND tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

1. Về tố tụng

Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại đất đã lấn chiếm, tháo dỡ công trình trên đất. Bị đơn, diện tích đất tranh chấp tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Tại cấp sơ thẩm đã xác định bà Phùng Thị H1 là người làm chứng là chưa chính xác, cấp phúc thẩm xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ngày 16/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử vụ án; Ngày 27/8/2024 nguyên đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được chấp nhận.

2. Về nội dung:

Bà Quách Thị Đ có thửa đất số 49, tờ bản đồ số 38, diện tích 183m² tại tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Bích H2 ngày 26/5/2021. Ngày 31/5/2021 được xác nhận

tại trang 4 GCN QSDĐ. Bà Đ thừa nhận khi mua bán không đo cụ thể, chỉ mua bán trên giấy tờ, các hộ giáp ranh không ký.

Các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương đều có văn bản trả lời không tìm thấy hồ lưu đối với thửa đất của hộ bà Đ.

Theo kết quả đo đạc thì đất hộ bà Đ đang sử dụng là 276m², nhiều hơn so với GCN QSDĐ được cấp là 93m²; nhiều hơn so với nguồn gốc ban đầu của thửa đất (Nguồn gốc ban đầu của thửa đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn N1 ngày 16/9/1999 là 156m², bao gồm 86m² đất thuộc HLGT; 86m² đất sử dụng lâu dài).

Thực tế, bà Đ sử dụng cả thửa số 49 và cả thửa số 51 là đất ao của ông X (bố của ông N1, H1). Bà Đ và bà H1 đều thừa nhận khi bà Đ mua đất, đo đủ 09m phía giáp quốc lộ F và phía sau thửa đất cũng là 9m, diện tích còn lại thì gia đình bà H1 mới xây nhà kiên cố. Bà Đ và bà H1 xác nhận hai gia đình không có tranh chấp về đất đai. Tại phiên tòa phúc thẩm, khi được giải thích theo kết quả trích đo thì đất của bà Đ thiếu về phía đất hộ bà H1, do bà H1 xây dựng nhà không đúng ranh giới địa chính nhưng bà Đ vẫn giữ nguyên quan điểm không khiếu nại gì với bà H1. Mà chỉ đề nghị xem xét việc hộ ông H xây lấn sang đất của bà.

Ông Nguyễn Chi H và bà Đinh Thị L sử dụng thửa đất số 32, tờ bản đồ 38 diện tích 77m² được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/01/2009 mang tên Hoàng Thị N (Bà N chuyển nhượng lại cho ông H, bà L). Bà N nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn P và vợ là Nguyễn Thị L2. Năm 2002-2003 ông P xây nhà 2 tầng kiên cố, có tường bao. Sau khi nhận chuyển nhượng nhà và đất ông H có sơn lại nhà và xây tường bao cao lên trên nền tường bao cũ, không lấn sang đất bà Đ. Kết quả đo thực tế đất hộ ông H 130m², bao gồm cả 38,8m² HLGT và phần đất khu vực bếp anh H3 xây dựng trên nắp của hệ thống cống thoát nước thải của khu dân cư. Lời khai của ông H phù hợp với bản trích đo ngày 30/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H. Theo kết quả trích đo xác định hộ ông Nguyễn Chi H xây dựng nhà trên đúng ranh giới theo bản đồ địa chính và Giấy chứng nhận QSDĐ đã được cấp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Đ có trình bày việc ông H lấn đất sang nhà bà có ông P làm chứng, tuy nhiên lời khai của ông Phú bất N2: Cụ thể tại biên bản hòa giải ngày 27/10/2022 của UBND phường T thực hiện, ông P khai:" Trước đây còn sử dụng mảnh đất gia đình có xây nhà ở và tường bao bằng gạch bavanh, phía giáp đường Q, từ mép nhà trở ra bên cạnh khoảng 50cm, chạy dọc theo chiều dài thửa đất trở ra phía sau, bám vào mép móng nhà ở"; tại biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2024 ông P lại khai: ranh giới đất nhà tôi và nhà bà Đ là tường nhà xây 2 tầng, không có tường bao. Như vậy lời khai của ông P không có giá trị chứng minh như ý kiến đã nêu của nguyên đơn.

Từ các phân tích nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Việc bà Đ khởi kiện yêu cầu anh H phải trả 12m² đất, tháo dỡ công trình trên đất là không có căn cứ chấp nhận. Bản án sơ thẩm đã xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Bà Đ kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng

minh nên không có cơ sở chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm, phù hợp với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

[1]. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Quách Thị Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-STngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

[2] Về án phí: Bà Quách Thị Đ phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thi tiền số 0004251 ngày 17/9/2024 của Chi cục THA dân sự thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Tuấn

Vũ Văn Túc

Bạch Thị Hồng Hoa

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hoà Bình;
  • - TAND TP Hòa Bình
  • - Chi cục THADS TP Hòa Bình
  • - Các Đương Sự;
  • - Lưu

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bạch Thị Hồng Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS - PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 35/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thi Đ - Nguyễn Chi H: Tranh chấp QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger