Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/DS-PT

Ngày: 06-3-2025

V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dư Thành Trung

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Bà Nguyễn Thị Bích Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Chi- Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Công- Kiểm sát viên.

Ngày 06/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2024/TLPT-DS ngày 18/10/2024, về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 569/2024/QĐ-PT ngày 18/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/20254/QDDPT-HPT ngày 08/01/2025; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 32/TB-TA ngày 12/02/2025; Thông báo về việc thay đỏi thời gian mở phiên tòa số 37/TB-TA ngày 20/02/2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái S, sinh năm 1962

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

Bị đơn:

1. Bà Đỗ Thị S1, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2024, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 10/6/2024 của nguyên đơn bà Lê Thị H, cũng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thái S:

Xuất phát từ mối quan hệ thân quen giữa bà Lê Thị H với bà Đỗ Thị S1, nên từ ngày 25/01/2017 đến tháng 11/2017 bà H có cho bà S1, ông L vay nhiều lần tiền và bán phân bón các loại.

Số tiền gốc bà H cho bà S1, ông L vay là 255.000.000 đồng; cụ thể:

  • Ngày 25/01/2017 vay 65.000.000 đồng.
  • Ngày 03/6/2017 vay 2.000.000 đồng.
  • Ngày 08/6/2017 vay 8.000.000 đồng.
  • Ngày 13/6/2017 vay 15.000.000 đồng.
  • Ngày 25/6/2017 vay 10.000.000 đồng.
  • Ngày 28/6/2017 vay 15.000.000 đồng.
  • Ngày 05/7/2017 vay 5.000.000 đồng.
  • Ngày 28/7/2017 vay 10.000.000 đồng.
  • Ngày 01/8/2017 vay 20.000.000 đồng.
  • Ngày 15/8/2017 vay 3.000.000 đồng.
  • Ngày 21/8/2017 vay 10.000.000 đồng.
  • Ngày 31/8/2017 vay 20.000.000 đồng.
  • Ngày 07/9/2017 vay 5.000.000 đồng.
  • Ngày 18/9/2017 vay 5.000.000 đồng.
  • Ngày 22/9/2017 vay 5.000.000 đồng.
  • Ngày 29/9/2017 vay 10.000.000 đồng.
  • Ngày 14/10/2017 vay 20.000.000 đồng.
  • Ngày 19/10/2017 vay 2.000.000 đồng.
  • Ngày 25/10/2017 vay 20.000.000 đồng.
  • Ngày 21/11/2017 vay 5.000.000 đồng.

Số tiền bà S1, ông L nợ mua phân bón tổng cộng là 31.055.000 đồng; cụ thể:

  • Ngày 24/3/2017 mua 300kg phân NPK x giá 8.500 đồng/kg = 2.550.000 đồng.
  • Ngày 16/5/2017 mua 1000kg phân NPK x 11.500 đồng/kg = 11.500.000 đồng và 400kg x 10.500đồng/kg = 4.200.000 đồng. Tổng cộng 15.700.000 đồng.
  • Ngày 05/6/2017 mua 250kg phân bò x 4.000 đồng/kg = 1.000.000 đồng.
  • Ngày 28/6/2017 mua 1.000kg vôi x 3.200 đồng/kg = 3.200.000 đồng và 600kg phân bò x 4.000 đồng/kg = 2.400.000 đồng. Tổng cộng 5.600.000 đồng.
  • Ngày 24/10/2017 mua 550kg phân NPK x 12.200 đồng/kg = 6.710.000 đồng, sau đó các bên chốt lại thể hiện còn lại phân bón ngày 24/10/2017 là 670.000 đồng.
  • Ngày 28/12/2017 mua 150kg phân Nam Việt x 11.500 đồng/kg = 1.725.000 đồng và 300kg phân Sumurai x 12.700 đồng/kg = 3.810.000 đồng. Tổng cộng 5.535.000 đồng.

Tuy bà S1 và ông L không có mối quan hệ vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng ông L, bà S1 có mối quan hệ tình cảm, sống chung với nhau như vợ chồng, nên việc vay mượn tiền cũng như mua bán phân bón đều phục vụ cho nhu cầu chung của bà S1, ông L và các giấy vay tiền, mua bán phân bón đều được bà S1, ông L ký xác nhận nợ. Do đó, bà S1 với ông L phải có trách nhiệm đối với các khoản nợ trên.

Trước đây bà H có khởi kiện bà S1, ông L vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và mua bán tài sản” liên quan đến khoản nợ từ năm 2018 trở về sau và đã được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết tại Bản án số 88/2023/DS-ST ngày 07/8/2023, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Khoản nợ hiện nay bà H khởi kiện không liên quan đến khoản nợ trước đó đã được giải quyết vì đây là khoản nợ của năm 2017. Sở dĩ, nay bà H mới khởi kiện bà S1, ông L đối với các khoản nợ năm 2017 là vì vào thời điểm đó bà H chưa tìm ra chứng cứ liên quan đến các khoản nợ năm 2017 và trong quá trình giải vụ án trước đó bà S1, ông L cũng thừa nhận chỉ giải quyết số nợ từ năm 2018 trở về sau, chứ chưa giải quyết số nợ năm 2017.

Đối với việc bà S1 yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện thì hiện nay bà H chỉ khởi kiện đòi bà S1, ông L thanh toán số tiền vay gốc là 255.000.000 đồng; đối với việc mua bán phân thì các bên không thỏa thuận thời hạn trả và hiện nay nguyên đơn cũng chỉ yêu cầu bà S1, ông L thanh toán số tiền gốc nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Do bà S1 với ông L không phải là vợ chồng nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà S1 và ông L mỗi người có nghĩa vụ thanh toán cho bà H ½ số tiền nợ gốc là 143.027.500 đồng (286.055.000 đồng : 2).

Đối với yêu cầu tính lãi suất 1,6%/tháng với số tiền lãi là 399.378.000 đồng trên số tiền vay và mua bán tài sản thì bà H xin rút toàn bộ. Do đó, đề nghị

Tòa án xác định lại quan hệ tranh chấp là tranh chấp kiện đòi tài sản và mua bán tài sản và xác định bị đơn trong vụ án này là bà S1 và ông L.

Ngoài khoản nợ trên thì bà S1, ông L không còn nợ bà H bất kỳ khoản tiền nào khác.

* Theo lời trình bày của bị đơn bà Đỗ Thị S1:

Xuất phát từ mối quan hệ quen biết là hàng xóm, bà H chuyên cung cấp phân bón, thu mua cà phê ở địa phương; hàng năm bà có mua bán phân bón với bà H cuối năm thì trả bằng cà phê, ngoài việc mua bán phân bón thì bà có vay tiền nhiều lần bằng cách bà H viết tay vào sổ cái, còn bà là người ký nhận nợ, quyển sổ này chỉ một mình bà H cất giữ. Đến cuối mỗi năm thì hai bên chốt công nợ và chuyển tiếp cộng dồn qua năm sau cả gốc và lãi (bao gồm cả tiền mua bán phân bón và tiền vay).

Đến năm 2017, bà H báo với bà bị mất sổ ghi gốc do thời gian này cả bà và bà H bị trộm cạy két sắt; lúc này bà H có báo bà qua chốt lại công nợ qua quyển sổ khác cộng dồn toàn bộ nợ cũ với công nợ của năm 2018. Do tin tưởng nên bà đồng ý, vì sự thật là công nợ bà chưa trả nên chuyển nợ sang năm 2018 và bà cũng không giữ giấy tờ gì mà chỉ ký nhận nợ, cứ nợ năm 2017 chưa trả hết thì chốt qua năm 2018, năm 2018 chưa trả được hết thì chốt qua năm 2019, năm 2019 chưa trả được hết thì chốt qua năm 2020.

Sau đó do tình hình kinh tế làm ăn của bà gặp khó khăn, nên chưa thể thanh toán đầy đủ công nợ cho bà H; đến năm 2023 bà H đã khởi kiện bà bằng một giấy chốt công nợ năm 2020. Quá trình làm việc tại Tòa án thì bà, bà H và ông L cũng đã khẳng định rõ ngoài giấy chốt công nợ trên thì các bên cũng không còn giấy tờ nợ nào. Tại thời điểm khởi kiện bà H cũng khai không trung thực, nên phải tiến hành đối chất nhiều lần, chứng cứ thì tẩy xóa, ghi thêm nội dung. Giấy tờ công nợ đến năm 2021 thì bà H lại sửa thành năm 2020. Do bà cũng chủ quan, tin tưởng, nên không nghĩ bà H còn giữ các giấy tờ nợ của các năm trước và cũng đã chốt lại công nợ, nên khi Tòa án hỏi thì bà cũng khai chưa chính xác dẫn đến bà đã khai nợ từ năm 2018, nhưng thực tế các bên cũng đã chốt hết công nợ, chứ không để nợ từng năm riêng biệt.

Kết quả giải quyết vụ án năm 2023, Tòa án đã tuyên bà phải có trách nhiệm thanh toán cho bà H số tiền 336.957.000 đồng. Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, bà đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình; bà chỉ thực hiện phần công nợ của bà, còn của ông L thì do ông L khó khăn, không có tài sản nên không thực hiện được việc thanh toán một lần, dẫn đến bà H bực tức tìm kiếm toàn bộ giấy tờ trước đây để tiếp tục khởi kiện.

Thực tế công nợ năm 2017 một phần bà đã thanh toán (giấy tờ hiện nay bà không giữ), một phần chưa thanh toán hết cũng đã chuyển sang năm 2018, sau đó chuyển dần qua các năm như trong bản án trước đó Tòa án đã giải quyết. Về bản chất công nợ 2017, đã được các bên chốt với nhau và bà cũng đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, nên bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

Việc vay tiền, mua bán phân bón với bà H là để bà cùng với ông Nguyễn Văn L cùng nhau đầu tư kinh doanh, làm ăn kinh tế với nhau. Mặc dù bà với ông L không đăng ký kết hôn với nhau, không phải là vợ chồng hợp pháp, nhưng sống chung với nhau như vợ chồng, cùng nhau làm ăn, cùng nhau xây dựng kinh tế gia đình. Đồng thời các tài liệu chứng cứ bà H khởi kiện thì phần lớn các khoản vay, khoản lấy phân bón từ bà H đều có chữ ký của ông L. Do đó, trong trường hợp Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H thì phải chia đôi khoản nợ cho bà và ông L cùng có trách nhiệm trả cho bà H và chỉ đồng ý trả khoản tiền gốc đối với khoản bà có chữ ký xác nhận, những khoản bà H tự ghi mà bà không ký xác nhận thì bà không đồng ý trả. Bên cạnh đó, bà H cho rằng bà vi phạm nghĩa vụ nợ gốc và nợ lãi từ năm 2017 – 2018 cho đến nay, thì bà đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

* Theo lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn L:

Ông và bà S1 chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn. Bà H là hàng xóm ở gần nhà ông và bà S1, nên trước đây ông có vay tiền rất nhiều lần và lấy phân bón từ bà H để cùng bà S1 đầu tư vào vườn cà phê. Do ông và bà S1 vay tiền và mua phân bón của bà H qua nhiều năm, nên cứ mỗi năm các bên lại chốt công nợ bao gồm tiền gốc, tiền lãi và tiền mua phân bón một lần, việc ghi công nợ và chốt công nợ bà H viết trong quyển sổ của bà H và yêu cầu ông với bà S1 phải ký xác nhận; quyển sổ này bà H là người giữ, bà H không ghi thêm bản nào khác để giao cho ông với bà S1 cùng giữ. Qua mỗi lần chốt công nợ thì bà H đều nói là đã gạch những phần ghi nợ của năm trước đó để cộng dồn mới, nên ông với bà S1 cũng tin tưởng mà không yêu cầu bà H cho kiểm tra, việc ký xác nhận vào quyển sổ của bà H thì có lần ông ký, có lần bà S1 ký và có lần thì cả ông và bà S1 cùng ký.

Đến năm 2017, bà H nói với ông và bà S1 bị mất cuốn sổ cũ, nên yêu cầu ông và bà S1 phải tiến hành chốt lại tổng số tiền nợ vào một quyển sổ mới, thì ông với bà S1 cũng đồng ý. Do ông và bà S1 gặp khó khăn về kinh tế, không có khả năng trả nợ cho bà H, nên bà H yêu cầu ông và bà S1 chốt lại công nợ của năm 2017 bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi qua năm 2018; năm 2018 chưa trả được thì bà H lại lấy khoản nợ đã chốt từ năm 2017 tính thêm tiền lãi cộng lại để chốt qua năm 2019, tiếp tục do không trả được cho bà H thì mỗi năm bà H đều yêu cầu ông với bà S1 phải chốt công nợ như vậy. Đến năm 2021, ông với bà S1 không đồng ý chốt lại công nợ với bà H nữa, vì số tiền gốc vay trước đây thì ít nhưng cộng dần tiền lãi đã quá nhiều.

Do ông với bà S1 chưa có khả năng trả cho bà H, nên đến năm 2023 bà H đã khởi kiện ông với bà S1 thông qua phần chốt công nợ vào năm 2021. Trong quá trình giải quyết vụ án trên, Tòa án cũng đã mời các bên lên để đối chất làm rõ nội dung vụ án, thì bà H cũng đã khai ngoài khoản mà bà đang khởi kiện ông và bà S1 thì không còn khoản vay nào khác. Do ông nhiều lần vay tiền của bà H và thời gian đã lâu nên ông không nhớ những lần vay tiền sử dụng vào mục đích gì, có lần sử dụng cho cá nhân, nhưng có lần thì để đầu tư kinh doanh cùng bà S1, nên Bản án số 88/2023/DS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện

Lâm Hà tuyên xử: “Buộc bà Đỗ Thị S1 phải trả cho bà H số tiền 336.957.000 đồng; buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho bà H số tiền 336.957.000 đồng”. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà S1 đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà H; còn lại phần của ông do hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định, không có tài sản nên chưa có khả năng trả nợ cho bà H, nên bà H đã nhiều lần gặp bà S1 yêu cầu phải trả cả phần nợ của ông, nhưng ông có nói để ông tìm việc làm lấy tiền trả dần nhưng bà H không đồng ý.

Do bà H không lấy được tiền của ông, nên bức xúc tìm lại những giấy tờ của những năm trước đây trong cuốn sổ cũ (đây là cuốn sổ mà năm 2017 bà H nói là bị trộm lấy mất để yêu cầu ông và bà S1 chốt lại công nợ qua quyển sổ mới) để khởi kiện ông và bà S1. Số tiền trên đã được Tòa án giải quyết trước đó, nên việc bà H khởi kiện là không đúng. Ngoài ra, ông thống nhất với lời trình bày của bà S1.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

“1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với yêu cầu tính lãi suất số tiền lãi 399.378.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” đối với bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L.

Buộc bà Đỗ Thị S1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 143.027.500 đồng (Một trăm bốn mươi ba triệu không trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 143.027.500 đồng (Một trăm bốn mươi ba triệu không trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng)”

Ngày 20/9/2024, bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H không đồng ý với kháng cáo của bị đơn; đề nghị giải quyết như Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị S1, ông Nguyễn Văn L. Căn cứ vào khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015,

giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của TAND huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L; thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L thì thấy rằng:

[2.1] Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do bà Lê Thị H xuất trình thể hiện bà S1, ông L vay của bà H tổng số tiền 225.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà S1, ông L còn mua bán phân bón của bà H và được các bên đối chiếu công nợ thể hiện bà S1, ông L nợ bà H tổng số tiền mua bán phân bón là 31.055.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà S1, ông L thừa nhận chữ ký tại các giấy vay tiền, mua bán phân bón năm 2017 bà H khởi kiện là của ông bà và thừa nhận ông bà chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn. Mục đích vay mượn tiền, mua bán phân bón của bà H để cùng đầu tư nông nghiệp với ông L là có trên thực tế và được các bên đương sự thừa nhận. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh.

[2.2] Bị đơn bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L cho rằng, đối với khoản nợ vay tài sản và mua bán tài sản theo yêu cầu khởi kiện của bà H đã được các bên đối chiếu chốt công nợ, trong đó một phần nợ đã được bà S1 trả, một phần nợ đã chuyển sang năm 2018 và đã được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 88/2023/DS-ST ngày 07/8/2023, hiện nay bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, tại hồ sơ vụ án nêu trên, bà Đỗ Thị S1 khai nhận “Vào năm 2018 bà Đỗ Thị S1 có vay của bà Lê Thị H số tiền 238.000.000đồng, lãi suất 1,5%/tháng, hai bên thỏa thuận cuối năm bà S1 phải trả cả gốc và lãi cho bà H. Nhưng đến cuối năm do khó khăn bà S1 chưa trả được nợ gốc và lãi cho bà H nên cứ mỗi năm các bên lại chốt lại công nợ với nhau. Bà H tính cộng dồn nợ gốc và nợ lãi qua các năm ghi thành nợ gốc, sau đó tính lãi dựa trên số tổng. Do không có giấy tờ nên bà S1 không nhớ con số cụ thể, bà chỉ nhớ đến ngày 01/11/2020 hai bên viết giấy chốt nợ bà S1 phải thanh toán cho bà H số tiền 462.000.000đồng, nội dung giấy này do bà H tự cộng và đọc cho bà S1 viết, hẹn 4-5 tháng sau sẽ trả nợ nhưng sau đó bà S1 vẫn chưa trả được. Nay bà H khởi kiện yêu cầu bà S1 trả số tiền 491.000.000đồng nợ gốc và 228.216.800đồng tiền nợ lãi, tổng cộng là 719.216.800đồng thì bà S1 không đồng ý vì số nợ gốc bà S1 vay là 238.000.000 đồng và nợ lãi là 1,5%/tháng”; ông Nguyễn Văn L trình bày “Nay bà H khởi kiện thì ông L đồng ý theo ý kiến của bà S1, Tòa án cứ giải

quyết vụ án cụ thể tiền gốc bao nhiêu, tiền lãi theo quy định của pháp luật là bao nhiêu thì chia đôi cho ông L và bà S1. Ông L sẽ có trách nhiệm trả ½ số nợ của bà H”.

Theo lời trình bày trên thể hiện bà S1, ông L thừa nhận khoản nợ trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết là khoản nợ phát sinh từ năm 2018 trở về sau. Như vây, khoản nợ của năm 2017 chưa được thanh toán và đối chiếu chốt công nợ chuyển sang năm 2018 như lời trình bày của bà S1, ông L.

[2.3] Tại giai đoạn sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp; trong khi đó bà H không thừa nhận và để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà H cung cấp bản chính giấy vay tiền và giấy mua bán phân bón năm 2017 được bà S1, ông L ký nhận nợ và thừa nhận.

[2.4] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Giấy vay tiền từ ngày 25/01/2017 đến ngày 21/11/2017 và Giấy mua bán phân bón từ ngày 24/3/2017 đến ngày 28/12/2017 để buộc bà S1 và ông L mỗi người có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 143.027.500 đồng (286.055.000 đồng : 2) là có căn cứ.

[3] Bị đơn bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L kháng cáo nhưng không đưa ra được các chứng cứ mới để làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà S1 có đơn xin miễn án phí do gia đình bà S1 được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, nên cần căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà S1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với yêu cầu tính lãi suất số tiền lãi 399.378.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” đối với bị đơn bà Đỗ Thị S1 và ông Nguyễn Văn L.

Buộc bà Đỗ Thị S1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 143.027.500 đồng (Một trăm bốn mươi ba triệu không trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 143.027.500 đồng (Một trăm bốn mươi ba triệu không trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đỗ Thị S1.

Buộc ông Nguyễn Văn L phải chịu 7.151.375 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Lê Thị H số tiền 16.484.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004549 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đỗ Thị S1.

Buộc ông Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng KT-NV & THA (01);
  • - TAND huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà (01);
  • - Đương sự (04);
  • - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Dư Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 35/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H khởi kiện bà Đỗ Thị S, ông Nguyễn Văn L tranh chấp kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger