Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 06-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Nhược;
  2. Bà Nguyễn Thị Tám.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hướng, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn P

sinh ngày 20/10/1985; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đ và bà Huỳnh Thị L; vợ đã ly hôn; bị cáo có 01 con sinh năm 2015, tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “ Cấm di khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

  • Ông Trần Đ, sinh năm 1950 (cha ruột của bị cáo). Vắng mặt
  • Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1949 (mẹ ruột của bị cáo). Có mặt

Cùng địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Ngô Thị D, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt

Địa chỉ: số G, đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

- Bị hại:

  • Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1985. Vắng mặt

Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

  • Ông Trần Phước C, sinh năm 1964. Vắng mặt

Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Thị Phước T, sinh năm 1983. Vắng mặt

Địa chỉ: số E, đường B T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/3/2024, bị cáo đến nhà ông Trần Phước C để sửa đàn ghita. Khi ông C đang sửa đàn, bị cáo đi ra sân nhà ông C, thấy xe mô tô biển số 92G1-045.54 của ông C, trên xe có sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp xe của ông C. Lợi dụng lúc ông C không chú ý, bị cáo ngồi lên xe rồi điều khiển xe 92G1- 045.54 của ông C đi đến khu vực xã B, huyện T, khi xe hết xăng, bị cáo đã bỏ lại xe cùng chìa khóa xe trên đường rồi đi về nhà. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, Công an xã B, huyện T phát hiện, lập biên bản vụ việc, tạm giữ xe mô tô 92G1-045.54 và bàn giao cho Công an thị trấn H, huyện Q.

Vụ thứ hai: vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 01/4/2024, bị cáo P đi bộ từ nhà vào hướng chợ H, khi đi đến trước cửa hàng “Mẹ và bé Thùy M” thuộc tổ dân phố H thì bị cáo phát hiện xe mô tô biển số 92G1-246.43 của chị Nguyễn Thị K đang dựng trên đường, không thấy ai trông coi, trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô này. Bị cáo đi đến vị trí xe mô tô 92G1-246.43 rồi nổ máy điều khiển xe về nhà mình. Sau đó, chị K đã làm đơn báo cáo gửi Công an thị trấn H. Sau khi Cơ quan Công an đến nhà triệu tập bị cáo làm việc, bị cáo đã giao nộp chiếc xe trộm cắp cho Công an thị trấn H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐ ĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: xe mô tô 92G1-246.43 có giá trị 15.750.000 đồng; xe mô tô 92G1-045.54 có giá trị 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 18.750.000 đồng.

Qua xác minh, bị cáo P có dấu hiệu của bệnh thần kinh tâm thần nên ngày 10/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ban hành Quyết định trưng cầu Trung tâm P1 giám định tình trạng tâm thần của bị cáo. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 1050/KLGĐ ngày 21/6/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T kết luận:

- Tại thời điểm gây án:

  • Kết luận về y học: Rối loạn tâm thần biệt định khác do bệnh lý cơ thể (F06.8) + Nhiễm HIV (R75).
  • Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

- Tại thời điểm hiện tại:

  • Kết luận về y học: Rối loạn tâm thần biệt định khác do bệnh lý cơ thể (F06.8) + Nhiễm HIV (R75). Đối tượng cần được điều trị ngoại trú.
  • Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • 01 (một) xe mô tô biển số 92G1-246.43 nhãn hiệu Honda Ariblade, màu đen đỏ.
  • 01 (một) xe mô tô biển số 92G1-045.54 nhãn hiệu Honda Ware, màu đỏ đen.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSQS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, q, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo là người bị khuyết tật nặng, đang được hưởng chế độ trợ cấp của nhà nước, bị cáo có nhân thân tốt. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử khoản 1 Điều 173; điểm s, q, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Vào ngày 31 tháng 03 và ngày 01 tháng 4 năm 2024, tại tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q; bị cáo P đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 92G1-045.54 của ông Trần Phước C có giá trị 3.000.000 đồng và trộm cắp xe mô tô biển số 92G1- 046.43 của chị Nguyễn Thị K có giá trị 15.750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà P đã trộm cắp là 18.750.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số số 30/CT-VKSQS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, nhưng bị cáo vẫn biết hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo hai lần thực hiện hành vi trộm cắp, mỗi lẫn đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; là người khuyết tật mức độ nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, q, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo phạm tội hai lần, nhưng mỗi lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng nên căn cứ vào điểm b khoản 5, 6 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 07/9/2022, bị cáo có thể được hưởng án treo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người khuyết tật mức độ nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo. Đối với yêu cầu của người bào chữa áp dụng cho bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là không phù hợp nên không chấp nhận.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại 01 (một) xe mô tô biển số 92G1-246.43 nhãn hiệu Honda Ariblade, màu đen đỏ và 01 (một) xe mô tô biển số 92G1-045.54 nhãn hiệu Honda Ware, màu đỏ đen là đúng với quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí: bị cáo là người khuyết tật, có đơn xin miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[9]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm s, q, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 292, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: bị cáo Trần Văn P 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06-11-2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích cho bị cáo các quy định về hình phạt tù cho hưởng án treo)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn P phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger