TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HSST Ngày: 04 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Anh Trình và bà Trần Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1993 tại L, L, Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, thị trấn Nông trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị N, có vợ Dương Thị O, có hai con; lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn C: Anh Nguyễn Châu T, sinh năm: 1988; nghề nghiệp: Xây dựng; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH X; địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Ngọc H, chức vụ: Giám đốc; ủy quyền cho bà Võ Thị Á, chức vụ Phó Giám đốc tham gia tố tụng; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 28/02/2024, Lê Văn Đ trú tại Tổ dân phố C, thị trấn nông trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình điều khiển xe ô tô BKS: 73C-071.51 lưu thông trên đường liên thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo hướng Tây - Đ, khi đi đến ngã tư đường giao nhau cùng mức không có báo hiệu đi theo vòng xuyến đã không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải dẫn đến va chạm giao thông với xe mô tô BKS: 73K9- 3168 do ông Nguyễn Văn C trú tại thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình điều khiển theo hướng N - B. Hậu quả: Ông Nguyễn Văn C tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị trầy xước hư hỏng nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định phương tiện số: 301/KL-KTHS ngày 20/3/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q giám định, kết luận: Đặc điểm các dấu vết phù hợp với tình huống tay lái bên trái, yên xe, tay dắt sau xe mô tô biển số 73K9-3168 va chạm với cản trước xe ô tô tải biển số 73C-071.51 theo hướng từ phải sang trái so với trục dọc của xe ô tô tải; bánh xe phía trước bên trái xe ô tô tải biển số 73C-071.51 va chạm với phần sau hộp xích, má và vành bên trái bánh xe sau xe mô tô biển số 73K9-3168 theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau tới trước so với trục dọc của xe mô tô trong trạng thái xe mô tô ngã nghiêng sang phải.
Tại bản kết luận giám định tử thi số: 282/KL-PY ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q giám định, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1965, chỗ ở: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) do chấn thương sọ não.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tạm giữ:
- 01 (một) xe ô tô BKS: 73C-071.51; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô Hạng C, số [...] mang tên Lê Văn Đ, do Sở G cấp ngày 14/3/2022;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 73C-071.51, có số 011557, nhãn hiệu FORLAND, mang tên chủ xe Công ty TNHH X, do Phòng C1 Công an tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017.
- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1237649 do Trung tâm Đ1 cấp ngày 24/4/2023, có hiệu lực đến hết ngày 23/4/2024.
- 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô, số 1013406, mang tên chủ xe Công ty TNHH X, tổng công ty cổ phần B - Công ty B1 cấp ngày 17/5/2023.
- 01 (một) xe mô tô BKS 73K9-3168 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
Ngày 25/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định xử lý vật chứng:
- Trả lại cho đại điện của Công ty TNHH X - là chủ sở hữu xe ô tô BKS: 73C-071.51: 01 (một) xe ô tô BKS: 73C-071.51; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 011557, nhãn hiệu FORLAND, do Phòng C1 Công an tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1237649 do Trung tâm Đ1 cấp ngày 24/4/2023, có hiệu lực đến hết ngày 23/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô, số 1013406, mang tên chủ xe Công ty TNHH X, tổng công ty cổ phần B - Công ty B1 cấp ngày 17/5/2023.
- Trả lại cho anh Nguyễn Châu T (sinh năm 1988, chỗ ở: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình là người đại diện hợp pháp của bị hại): 01 (một) xe mô tô BKS 73K9-3168 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ tai nạn, Lê Văn Đ đã hỗ trợ chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân số tiền 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng), đại diện gia đình nạn nhân không có yêu cầu gì thêm. Đại diện của gia đình bị hại đã nhận tiền, viết đơn bãi nại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm đối với Lê Văn Đ.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 09 tháng 8 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lê Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn Đ. Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn Đ mức án từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng đến 48 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự: Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô Hạng C số [...] mang tên Lê Văn Đ do Sở giao thông vận tại tỉnh Quảng Bình cấp ngày 14/3/2022.
Bị cáo Lê Văn Đ nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm lo, giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng
Tại phiên tòa, vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy những người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 28/02/2024, bị cáo Lê Văn Đ điều khiển xe ô tô BKS: 73C-071.51 lưu thông trên đường liên thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo hướng Tây - Đ, khi đi đến ngã tư đường giao nhau cùng mức không có báo hiệu đi theo vòng xuyến đã không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải dẫn đến va chạm giao thông với xe mô tô BKS: 73K9- 3168 do ông Nguyễn Văn C điều khiển theo hướng N - B. Hậu quả: Ông Nguyễn Văn C tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị trầy xước hư hỏng nhẹ. Hành vi của Lê Văn Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ, được quy định cụ thể tại Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1.
Như vậy, hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của bị cáo Lê Văn Đ thực hiện thuộc lỗi vô ý, đủ yếu tố cấu thành “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người có sức khỏe, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do chủ quan, thiếu tuân thủ luật giao thông đường bộ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác khi tham gia giao thông. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội cho người tham gia giao thông. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo như đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe ô tô BKS: 73C - 071.51 chỉ bị trầy xước nhẹ, không hư hỏng, chị Võ Thị Á là đại điện của Công ty TNHH X không yêu cầu định giá tài sản và không yêu cầu bị cáo Lê Văn Đ phải chịu trách nhiệm sửa chữa, mà Công ty TNHH X sẽ tự khắc phục, sửa chữa và nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô BKS: 73K9-3168, sau khi tai nạn giao thông xảy ra không bị hư hỏng gì, chỉ bị trầy xước nhẹ nên anh Nguyễn Châu T đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu định giá tài sản và không yêu cầu bị cáo Lê Văn Đ phải chịu trách nhiệm sửa chữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe ô tô BKS: 73C-071.51; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 011557, nhãn hiệu FORLAND, do Phòng C1 Công an tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1237649 do Trung tâm Đ1 cấp ngày 24/4/2023, có hiệu lực đến hết ngày 23/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô, số 1013406, mang tên chủ xe Công ty TNHH X. Ngày 25/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho đại điện của Công ty TNHH X - là chủ sở hữu đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét;
Đối với 01 (một) xe mô tô BKS 73K9-3168, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định xử lý vật chứng cần trả lại cho anh Nguyễn Châu T - con của ông Nguyễn Văn C là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét;
Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô Hạng C số [...] mang tên Lê Văn Đ do Sở giao thông vận tại tỉnh Quảng Bình cấp ngày 14/3/2022 có giá trị đến ngày 14/3/2027, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ cần trả lại cho bị cáo là hoàn toàn phù hợp với khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự; điểm g khoản 2 Điều 260 khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đồng phạm t “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/9/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử trả lại cho bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô Hạng C số [...] mang tên Lê Văn Đ do Sở giao thông vận tại tỉnh Quảng Bình cấp ngày 14/3/2022.
4. Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 35/2024/HSST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 35/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử bị cáoLê Văn Đ
