|
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 24/4/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa
Ông Nguyễn Duy Cường
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hóa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Huế - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tao Văn S Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 28/6/1992; Tại: T - Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Lự; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Tao Văn C, sinh năm 1963 con bà: Vàng Thị M, sinh năm 1965. Gia đình bị cáo có 03 anh anh em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Lò Thị É, sinh năm 1998, Con: 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên Đ1, sinh hoạt tại Chi bộ 4 bản Chăn Nuôi, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu khóa XII, nhiệm kỳ 2022-2027.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/02/2024, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay "có mặt".
* Bị hại: Ông Nguyễn Đức C1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu "vắng mặt có lý do".
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Tao Văn C sinh năm 1963. Địa chỉ: Bản C, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu "có mặt".
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
Chị Lò Thị É, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản C, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu "có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 15/01/2024 Tao Văn S, sinh ngày 28/6/1992 trú tại bản Chăn Nuôi, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu đặt mua 02 sợi dây chuyền giả vàng làm từ hợp kim của Đ (Cu) và K (Zn) trên mạng xã hội Facebook (Seng đã xóa tin nhắn, không phục hồi được dữ liệu) với mục đích để tặng vợ và con gái với giá 199.000 đồng/01 dây. Đến khoảng 18 giờ, ngày 18/01/2024 người giao hàng đã gọi vào số điện thoại 0977.739.xxx của S để nhận 02 sợi dây chuyền Seng đặt mua (Seng đã xóa nhật ký cuộc gọi trên điện thoại, không phục hồi được dữ liệu), khi nhận hàng Seng kiểm tra mỗi sợi dây chuyền đều có màu vàng, đựng trong một hộp nhựa màu đỏ có lót bông và gắn mác giấy màu trắng, một mặt ghi "SP: dây chuyền, KT: 24KGP, Giá: 3.900.000vnđ", một mặt ghi "KLV: 5.55; KLM: 011", S thanh toán số tiền 400.000 đồng cho người giao hàng rồi cất 02 sợi dây chuyền ở nhà. Ngày 19/01/2024, S đưa sợi dây chuyền xiên hình quả cầu cho vợ là Lò Thị É và nói dối là vàng thật mua với giá 3.900.000 đồng nhưng É không đeo vàng vì suốt ngày đi lao động nên mang cất đi.
Đến ngày 28/01/2024 do không có tiền tiêu sài nên Tao Văn S đã nảy sinh ý định mang 02 sợi dây chuyền giả vàng đi lừa bán cho các cửa hàng vàng bạc trên địa bàn thị trấn T để lấy tiền, S mang theo sợi dây chuyển xiên hình quả cầu được mạ vàng rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WaveS màu đen trắng, biển kiểm soát 25B1- 026.50 (xe thuộc sở hữu của ông Tao Văn C2 là bố đẻ S) đến cửa hàng V thuộc bản T, thị trấn T, huyện T gặp chủ cửa hàng là ông Nguyễn Đức C1, sinh năm 1963 hỏi bán vàng và đưa sợi dây chuyền cho ông C1, ông C1 chỉ kiểm tra tem mác gắn trên sợi dây chuyền nên không phát hiện là vàng giả, ông C1 hỏi S mua dây chuyền ở đâu thì S nói là mua ở Hà Nội, ông C1 trả giá 2.400.000 đồng nhưng S giả vờ không đồng ý bán vì rẻ và đi về với mục đích để ông C1 trả giá cao hơn nhưng ông C1 không trả thêm nên S đi về nhà. Đến hồi 10 giờ, ngày 29/01/2024 S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 026.50 mang theo sợi dây chuyền xiên hình quả cầu được mạ vàng đến cửa hàng vàng bạc C, S đưa sợi dây chuyền cho ông C1 nhưng do đã kiểm qua tem mác gắn trên sợi dây chuyền vào ngày 28/01/2024 nên ông C1 không kiểm tra lại, qua trao đổi ông C1 trả giá 2.300.000 đồng, S đồng ý bán, ông C1 trả cho S 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 06 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, S cầm tiền
rồi đi về. Số tiền do lừa bán vàng giả có được S đã chi tiêu cá nhân hết 300.000 đồng. Với cách thức lừa đảo như trên, cùng ngày 29/01/2024 S tiếp tục mang theo sợi dây chuyền xiên hình trái tim được mạ vàng đến cửa hàng V1 thuộc bản H, thị trấn T do bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1970 làm chủ để lừa bán nhưng bà Y đã phát hiện là vàng giả nên không mua. Khi về nhà do lo sợ bị phát hiện hành vi lừa bán vàng giả nên S đã xóa tin nhắn đặt mua dây chuyền và nhật ký cuộc gọi giao hàng. Đến khoảng 15 giờ ngày 31/01/2024 S mang theo sợi dây chuyền xiên hình trái tim được mạ vàng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 026.50 đến cửa hàng V để tiếp tục lừa bán, ông C1 phát hiện là vàng giả nên đã lấy sợi dây chuyền xiên hình quả cầu mua của S ngày 29/01/2024 ra kiểm tra thì phát hiện vàng giả nên đã gọi điện báo tin cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T đến làm việc, thu giữ của Tao Văn S 01 sợi dây chuyền xiên hình trái tim bằng kim loại màu vàng đựng trong hộp nhựa, 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO kèm theo 01 sim điện thoại, 01 xe máy biển kiểm soát biển kiểm soát 25B1- 026.50; thu giữ của ông Nguyễn Đức C1 01 sợi dây chuyền xiên hình quả cầu bằng kim loại màu vàng đựng trong hộp nhựa; Tao Văn S đã tự nguyện giao nộp số tiền do lừa bán vàng giả mà có được còn lại là 2.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Kết luận giám định số: 963/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của V2 - Bộ C3 kết luận:
- 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, trên mắt xích gần móc khóa có số và chữ "18KGP", mặt dây chuyền hình quả cầu kim loại màu vàng có gắn các viên vật liệu không màu gửi giám định có tổng khối lượng 4,78 gam (tính cả khối lượng các khối lượng các viên vật liệu), trong đó:
- + Dây chuyền có khối lượng 3,21 gam là hợp kim của đồng (Cu), K (Zn); hàm lượng Cu: 87,98%, Z: 12,02%.
- + Mặt hình quả cầu có gắn các viên vật liệu không màu có tổng khối lượng lượng 1,57 gam (tính cả các viên vật liệu); phần kim loại là hợp kim của đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng Cu: 71,36%, Z: 28,64%.
Dây chuyền và mặt hình cầu có màu vàng do đều được mạ vàng (A).
- 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, trên mắt xích gần móc khóa có số và chữ "18KGP", mặt dây chuyền hình trái tim màu vàng có gắn các viên vật liệu không màu gửi giám định có tổng khối lượng 4,70 gam (tính cả khối lượng các viên vật liệu) trong đó:
- + dây chuyền có khối lượng 3,08 gam là hợp kim của đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng Cu: 88,04%, Z: 11,96%.
- + Mặt hình trái tim có gắn các viên vật liệu không màu có tổng khối lượng 1,62 gam (tính cả các viên vật liệu); phần kim loại là hợp kim của đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng Cu: 69,73%, Z: 30,27%.
Dây chuyền và mặt hình cầu có màu vàng do đều được mạ vàng (A).
Tại Kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Tổng số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) bao gồm 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ có các mã số hiệu lần lượt là: RV 21222345; WY 16009140; RS 19951672; EO 18437854 gửi giám định là tiền thật.
Tại Kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Phục hồi, trích xuất dữ liệu điện tử trong mẫu vật gửi giám định, tìm thấy: 08 cuộc gọi (05 cuộc gọi đi, 03 cuộc gọi nhỡ) trong ngày 18/01/2024; không tìm thấy tin nhắn Facebook Messenger trong khoảng thời gian từ ngày 15/01/2024 đến ngày 18/01/2024.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận: Tổng trị giá của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 29/01/2024 là: 0 đồng.
Bản cáo trạng số 24/CT - VKSTĐ ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường đã truy tố Tao Văn S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên. Quá trình điều tra bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.
Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt bị hại Nguyễn Đức C1 trình bày: Ông đã nhận lại số tiền 2.300.000 đồng, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Tao Văn S ông không có ý kiến gì. Về hình phạt, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tao Văn C trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu Trắng-Vàng-Đen, BKS: 25B1-026.50, là của ông, ông không biết việc bị cáo S sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên xin trả lại xe, ông không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tao Văn S phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tao Văn S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng Cải tạo không giam giữ, bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến ngày 24/4/2024 là 62 ngày (02 tháng 02 ngày), quy đổi là 186 ngày (06 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành tiếp thời gian còn lại, thời hạn tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục, bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Áp dụng khoản 3 Điều 328 BLTTHS trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập và miễn lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo. Không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 hộp đựng dây chuyền bằng nhựa hình tròn, màu đỏ; 02 Sợi dây chuyền kim loại màu vàng. Trả lại cho ông Tao Văn C2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu Trắng-Vàng-Đen, BKS: 25B1-026.50, kèm theo xe là 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số: 004937 cấp ngày 11/10/2011 cho Tao Văn C2, địa chỉ: Bản C, xã B, huyện T, Lai Châu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40 màu đen, kèm theo 01 sim điện thoại di động, trên sim có dãy số: 89840 48000 07675 1622. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Tao Văn S không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Tao Văn S thể hiện việc nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Tao Văn S đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ.
Vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại bản Trung Tâm, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, bằng thủ đoạn gian dối Tao Văn S đã mang sợi dây chuyền xiên hình quả cầu mạ vàng được làm từ hợp kim của Đ (Cu) và K (Zn) lừa bán cho ông Nguyễn Đức C1, chiếm đoạt được số tiền 2.300.000 đồng để lấy tiền tiêu sài.
Bị cáo Tao Văn S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của
công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Do đó, hành vi của bị cáo Tao Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Tao Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; gia đình bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện giao nộp vật chứng; bố đẻ của bị cáo là ông Tao Văn C2 được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen và Trưởng ban D tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác; bị cáo là người dân tộc thiểu số; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật của Nhà nước đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự bị cáo bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, thu nhập của bị cáo chủ yếu dựa vào làm ruộng, thu nhập không ổn định, phải nuôi 02 con nhỏ và bố mẹ già. Với nhận định như trên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, tuy nhiên xét thấy bị cáo có nghề nghiệp là làm ruộng, không bị mất việc làm, các con bị cáo đều còn nhỏ, bố mẹ đã già nên miễn không phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề làm ruộng, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra và đơn xin vắng mặt tại phiên toà bị hại Nguyễn Đức C1 không yêu cầu bị cáo Tao Văn S phải bồi thường gì thêm.
[6] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS:
Đối với 02 hộp đựng dây chuyền bằng nhựa hình tròn, màu đỏ; 02 Sợi dây chuyền kim loại màu vàng, là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu Trắng-Vàng-Đen, BKS: 25B1-026.50, xe cũ, đã qua sử dụng. Kèm theo xe là 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số: 004937 cấp ngày 11/10/2011 cho Tao Văn C2, địa chỉ: Bản C, xã B, huyện T, Lai Châu là phương tiện bị cáo đã sử dụng thực hiện hành vi phạm tội và là vật chứng của vụ án, tuy nhiên xét thấy ông C2 là chủ sở hữu không biết việc bị cáo S sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40 màu đen, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, kèm theo 01 sim điện thoại di động, trên sim có dãy số: 89840 48000 07675 1622 là số tiền do bị cáo phạm tội mà có được, bị hại Nguyễn Đức C1 đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 2.300.000 đồng nên không có yêu đề nghị gì. Chiếc điện thoại di động và sim điện thoại di động là tài sản của bị cáo, bị cáo S đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Những vấn đề liên quan:
Đối với ông Tao Văn C2 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-026.50. Quá trình điều tra xác định ông C2 không biết việc S sử dụng xe mô tô làm phương tiện để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Tao Văn C2 là đúng quy định.
Theo khai nhận của bị can Tao Văn S, 02 sợi dây chuyền là vàng giả được S đặt mua qua mạng Facebook và được giao bởi người giao hàng không quen biết, quá trình điều tra xác định S đã xóa tin nhắn đặt mua hàng và xóa nhật ký cuộc gọi trên điện thoại nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Đối với bà Đỗ Thị Y chủ cửa hàng V1, khi S đến bán vàng giả nhưng bà Y không mua và bà Y không biết S đã lừa bán vàng giả cho ông C1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà Y về tội không tố giác tội phạm và tội che giấu tội phạm là đúng quy định.
Đối với chị Lò Thị É là vợ của bị can Tao Văn S; khi S mua 02 sợi dây chuyền là vàng giả và S bán cho ông C1 01 dây chuyền vàng giả để lấy tiền tiêu sài, chị É hoàn toàn không biết, do đó không đề cập xử lý đối với chị Lò Thị É là đúng quy định.
[8] Về án phí:
Theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tao Văn S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 5 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tao Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Tao Văn S 02 (Hai) năm Cải tạo không giam giữ, bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến ngày 24/4/2024 là 62 ngày (02 tháng 02 ngày), quy đổi là 186 ngày (06 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành tiếp thời gian còn lại là 17 (Mười bảy) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày. Thời hạn Cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục, bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập và miễn thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
Người bị kết án Cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 02 hộp đựng dây chuyền bằng nhựa hình tròn, màu đỏ; 02 Sợi dây chuyền kim loại màu vàng.
Trả lại cho ông Tao Văn C2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu Trắng-Vàng-Đen, BKS: 25B1-026.50, xe cũ đã qua sử dụng. Kèm theo xe là 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số: 004937 cấp ngày 11/10/2011 cho Tao Văn C2, địa chỉ: Bản C, xã B, huyện T, Lai Châu.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40 màu đen, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, kèm theo 01 sim điện thoại di động, trên sim có dãy số: 89840 48000 07675 1622.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
4. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Tao Văn S không phải bồi thường gì cho bị hại Nguyễn Đức C1.
5. Về án phí: Bị cáo Tao Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dương Thanh Bắc |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
