Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số:35/2024/HS-ST

Ngày 23/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Thanh Tuấn;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tạo;

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký TAND huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Công T, sinh ngày 18/4/1983, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Lê Thị G; vợ, con: chưa có; tiền án: không;

Tiền sự: ngày 27/7/2023, Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt hành chính số 119/QĐ-XPHC, số tiền 2.500.000 đồng, đã thi hành xong;

Nhân thân: ngày 28/3/2022, bị Công an xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt hành chính số 35/QĐ-XPHC, số tiền 2.500.000 đồng, đã thi hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế từ ngày 08/4/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần T2; địa chỉ: số B đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Bảo A – Giám đốc Công ty.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1986; địa chỉ: số D đường B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Văn bản ủy quyền ngày 04/6/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Ngô Thị N1, sinh năm 1955; trú tại: thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

Bà Lê Thị G, sinh năm 1960; địa chỉ:thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng giữa tháng 01/2024, Trần Công T đi thu hoạch cây tràm làm tinh dầu thì phát hiện có thể lấy các thanh sắt trên các cột thông tin tín hiệu dọc đường sắt để bán kiếm tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sáng ngày 29/01/2024, T lấy xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 75X1-0631, 03 cái cờ lê, 02 bao tải của bà Lê Thị G (sinh năm 1960, trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, mẹ ruột T) điều khiển lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng huyện P đi huyện G nhằm tháo trộm sắt.

Khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, khi đến địa phận xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị, T điều khiển xe rẽ trái vào một đường nhựa rồi giấu xe vào một đường mòn đất đỏ. Sau đó, cầm cờ lê, bao tải đã chuẩn bị trước đó đi theo các cột tín hiệu đường sắt, hướng ra B để tháo trộm sắt được lắp đặt trên các cột thuộc quản lý của Công ty Cổ phần T2 (địa chỉ tại số B, đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng). Triều bỏ bao tải dưới chân cột, nhét cờ lê vào lưng quần rồi đạp chân vào các lỗ trống, hai tay bám, leo lên vị trí lắp các thiết bị vật tư, ngồi lên giá đỡ dây, tay cầm cờ lê tháo những thanh kim loại cũng như tháo các cục sứ màu trắng bên trong chứa thanh sắt vứt xuống đất. Sau đó, leo xuống lượm những vật tư, thiết bị bỏ vào bao tải, đối với các cục sứ màu trắng bên trong chứa thanh sắt T dùng cờ lê đập vỡ phần sứ lấy phần sắt phía bên trong. Triều đã tháo trộm 65kg vật tư, thiết bị bằng sắt trên cột thông tin tín hiện ký hiệu các số 1545, 1546, 1549, 1553, 1557, 1559 gồm 28 thanh cuốn sứ thẳng; 16 bu long, đinh tán các loại; 02 kẹp cáp tròn; 02 kẹp cáp dẹp; 08 bàn đảo H; 12 cùm kẹp cáp; 32 cuốn sứ đảo; 05 móc kẹp cáp, 57 sứ A18.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở 02 bao tải sắt lưu thông về nhà, khi đến địa phận huyện H thì bị Phòng C, Công an tỉnh Q yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật.

Quá trình điều tra, T khai nhận cùng với thủ đoạn như trên, T còn thực hiện các lần trộm tài sản khác tại huyện G, cụ thể như sau:

Ngày 25/01/2024, T điều khiển xe mô tô BKS 75X1-0631 cầm theo cờ lê, bao tải đi đến địa bàn xã G, huyện G lựa chọn nơi vắng vẻ, bỏ xe mô tô bên một con đường đất đỏ, sau đó cầm cờ lê, bao tải đi dọc theo các cột tín hiệu đường sắt hướng ra Bắc tháo trộm 54kg vật tư, thiết bị bằng sắt được lắp đặt trên các cột thông tin tín hiệu các số 1788, 1791, 1792, 1793, 1794, 1795, 1796 gồm 05 bàn đảo H, 85 cuống sứ thẳng, 24 cuống sứ đảo, 98 sứ A18, 07 cùm kẹp cáp. Sau khi tháo trộm xong thì cho vào bao tải bỏ lên yên xe rồi điều khiển xe về nhà. Dọc đường Triều thấy cửa hàng phế liệu của bà Ngô Thị N1 (sinh năm 1955) tại thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế mở cửa nên đã vào bán 54kg sắt với giá 432.000 đồng, số tiền này T tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 28/01/2024, T điều khiển xe mô tô BKS 75X1-0631 cầm theo cờ lê, bao tải đi đến địa bàn xã P, huyện G lựa chọn nơi vắng vẻ giấu xe mô tô, sau đó cầm cờ lê, bao tải đi dọc theo các cột tín hiệu đường sắt hướng ra Bắc tháo trộm 60kg vật tư, thiết bị bằng sắt được lắp đặt trên các cột thông tin tín hiệu các số 1615, 1616, 1617, 1619, 1621, 1622, 1623, 1624, 1625, 1626, 1627, 1629, 1630, 1631 gồm 08 bàn đảo H, 112 cuống sứ thẳng, 27 cuống sứ đảo, 166 sứ A18, 13 cùm kẹp cáp, 02 kẹp cáp dẹp, 03 kẹp cáp tròn. Sau khi tháo trộm sắt xong thì cho vào bao tải bỏ lên yên xe rồi điều khiển xe đến cửa hàng phế liệu của bà N1 bán 60kg sắt với giá 480.000 đồng, số tiền này T tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số tài sản trên là của Công ty Cổ phần T2 (địa chỉ tại số B, đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng), hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt tại các xã T, P, G thuộc huyện G, tỉnh Quảng Trị được xây dựng từ năm 1976, hồ sơ liên quan đến việc thi công hệ thống thông tín hiệu đường sắt nói trên đã bị thất lạc. Hiện nay, số vật tư thiết bị nói trên đã bị rĩ rét và gần như hết công năng sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự (ĐGTSTTTHS) huyện G kết luận: “Vật tư, thiết bị thông tin tín hiệu đường sắt gồm các bộ phận sau: 28 thanh cuống sứ thẳng; 16 bu lon, đinh tán các loại; 02 kẹp cáp tròn; 02 kẹp cáp lép; 08 bàn đảo H; 12 cùm kẹp cáp; 32 cuống sử đảo. Tất cả các bộ phận được lắp đặt, sử dụng từ năm 1976 đến nay, đã bị rỉ rét và gần hết công năng sử dụng. Vật tư thiết bị trên có khối lượng 65kg sắt trị giá tại thời điểm ngày 29/01/2024 là 487.000 đồng”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-ĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện G kết luận: “Vật tư, thiết bị thông tin tín hiệu đường sắt gồm các bộ phận sau: 05 bàn đảo H; 85 cuống sứ thẳng; 24 cuống sứ đảo; 07 cùm kẹp cáp. Tất cả các bộ phận được lắp đặt, sử dụng từ năm 1976 đến nay, đã bị rỉ rét và gần hết công năng sử dụng. Vật tư thiết bị trên có khối lượng 54kg sắt, trị giá tại thời điểm ngày 25/01/2024 là 432.000 đồng.

Vật tư, thiết bị thông tin tín hiệu đường sắt gồm các bộ phận sau: 08 bàn đảo H; 112 cuống sứ thẳng; 27 cuống sứ đảo; 02 kẹp cáp dẹp; 03 kẹp cáp tròn. Tất cả các bộ phận được lắp đặt, sử dụng từ năm 1976 đến nay, đã bị rỉ rét và gần hết công năng sử dụng. Vật tư thiết bị trên có khối lượng 60kg sắt, trị giá tại thời điểm ngày 28/01/2024 là 480.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-GL_ngày 24/6/2024 của VKSND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Trần Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố: bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thỏa thuận với anh Phạm Ngọc T1 bồi thường 36.146.000 đồng tuy nhiên chưa thực hiện, đề nghị HĐXX ghi nhận bị cáo phải bồi thường cho Công ty Cổ phần T2 36.146.000 đồng theo thỏa thuận.

- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm xe mô tô BKS 75X1-0631, Giấy chứng nhận đăng ký xe, 03 cờ lê, 03 bao tải màu trắng của bà G. 28 thanh cuốn sứ; 16 bu long, đinh tán các loại; 02 kẹp cáp tròn; 02 kẹp cáp lép; 08 bàn đảo H; 12 cùm kẹp cáp; 32 cuốn đảo của Công ty Cổ phần T2, hiện đã trả lại cho các chủ sở hữu nên không đề nghị HĐXX xem xét.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Phân tích chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với sơ đồ, biên bản thực nghiệm điều tra và bản ảnh xem xét hiện trường; lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Trần Công T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên trong các ngày 25, 28, 29 tháng 01 năm 2024 bị cáo đã nhiều lần có hành vi lén lút tháo trộm các thiết bị tín hiệu được lắp đặt trên các cột thuộc quản lý của Công ty Cổ phần T2 với tổng trị giá tài sản trộm cắp là 1.399.000 đồng (Cụ thể: ngày 25/01/2024 là 432.000 đồng, ngày 28/01/2024 là 480.000 đồng ngày 29/01/2024 là 487.000 đồng). Mặc dù các lần trộm cắp tài sản của bị cáo đều dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hạn để được coi là không bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm nên có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Xét tính chất vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, ảnh hưởng đến an toàn ngành đường sắt, gây hoang mang dao động và làm bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản trong đó có 01 lần được xác định là tiền sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí, rèn luyện bản thân, mà lại mong muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân bằng việc chiếm đoạt tài sản của bị hại nên đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện sự bất chấp, coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ tác dụng giáo dục trực tiếp đối với bị cáo; đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng:

Mặc dù 03 lần trộm cắp tài sản của bị cáo mỗi lần đều dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hạn để được coi là không bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm, nên các lần trộm cắp của bị cáo đều cấu thành tội phạm. Vì vây, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự thú ra hai lần thực hiện hành vi phạm tội vào các ngày 25, 28 tháng 01 năm 2024, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đưa ra mức hình phạt đối với bị cáo trong khoảng từ 9 tháng đến 12 tháng tù là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì thấy rằng, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại biên bản thỏa thuận ngày 29/5/2024 và tại phiên tòa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Phạm Ngọc T1 tự nguyện thỏa thuận bị cáo phải bồi thường cho Công ty Cổ phần T2 chi phí khôi phục lại hoàn toàn các vật tư tín hiệu tại các cột tín hiệu mà bị cáo tháo trộm tài sản với số tiền 36.146.000 đồng (gồm chi phí lắp đặt và thay mới các thiết bị). Tuy nhiên bị cáo chưa có có tiền để bồi thường, nên bị cáo và người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận nêu trên; Hội đồng xét xử xét thấy, sự thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần áp dụng các Điều 584, 586, 589 BLDS; Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS ghi nhận sự thỏa thuận trên giữa bị cáo và bị hại.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ xe mô tô BKS 75X1-0631, Giấy chứng nhận đăng ký xe, 03 cờ lê, 03 bao tải màu trắng là tài sản của Lê Thị G bị cáo đã sử dụng làm công cụ và phương tiện để phạm tội. Tuy nhiên, khi bị cáo sử dụng xe mô tô và các các công cụ trên vào việc phạm tội bà G không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại các tài sản trên cho bà G là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 28 thanh cuốn sứ; 16 bu long, đinh tán các loại; 02 kẹp cáp tròn; 02 kẹp cáp lép; 08 bàn đảo H; 12 cùm kẹp cáp; 32 cuốn đảo là tài sản bị cáo của Công ty Cổ phần T2, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo và người bị hại không có yêu cầu gì đối với các tài sản này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Do bị cáo bị Toà án xử phạt tù nên cần ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mới đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Công T 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. - Áp dụng các Điều 584, 586, 589 BLDS; Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Trần Công TCông ty Cổ phần T2: bị cáo phải bồi thường cho Công ty Cổ phần T2 số tiền 36.146.000đ (Ba mươi sáu triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Trần Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/8/2024); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - CA huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo; bị hại; người CQLNVLQ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Công T trộm cắp tài Sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger