Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN CHẤN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn T.
  • Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Đình M.
  • - Ông Dương Trung L.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập P - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngân Văn L (tên gọi khác không), sinh ngày 01/01/1981 tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn lớp 5/12; nghề nghiệp: làm ruộng; con ông Ngân Văn T (Đã chết) và bà Xú Thị Ú, sinh năm 1953; vợ, con: Chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 17/4/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xử phạt 08 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bản án số: 19/2013/HSST). Năm 2019 chấp hành xong hình phạt về địa phương, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 21/5/2024, tạm giam từ ngày 24/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Phan Thị Kim T1, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Lục Văn H, sinh năm 1995, trú tại: Thôn C, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  2. Anh Ngân Văn T2, sinh năm 1988, trú tại: Thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Tùng D, sinh năm 1989, trú tại: Thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, tại nhà ở của Ngân Văn L thuộc thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Ngân Văn L đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Tùng D, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã G, huyện V. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Ngân Văn L 01 gói giấy màu trắng có chữ bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine); trên giường trong buồng ngủ cạnh chỗ L đang ngồi 01 gói nilon màu xám được buộc túm một đầu, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine); tại túi quần bên trái Ngân Văn L đang mặc số tiền 1.000.000 đồng, gồm nhiều mệnh giá khác nhau. Thu giữ tại túi quần bên trái của Phạm Tùng D đang mặc 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Ngoài ra tổ công tác còn phát hiện Lục Văn H, sinh năm 1995, trú tại thôn C, xã G, huyện V đang ngồi ở phía sau buồng ngủ của gia đình nhà L, thu giữ dưới chân Lục Văn H 01 mảnh giấy gói màu trắng có chữ, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở, 01 bật lửa ga màu đỏ. Khai thác tại chỗ Ngân Văn L khai nhận khi L đang ngủ tại nhà thì Lục Văn HPhạm Tùng D đến hỏi mua heroine. H đưa cho L 100.000 đồng được L bẻ cho 1 cục H3 cho vào gói giấy màu trắng đưa cho H, lúc đó D cũng đưa cho L 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và bảo L bán cho 100.000 đồng Heroine. Sau khi nhận tiền, L trả lại cho D 100.000 đồng và đang chuẩn bị đưa heroine cho D thì bị phát hiện bắt giữ. Lục Văn HPhạm Tùng D khai sự việc diễn ra đúng như Ngân Văn L khai nhận. Lục Văn H khai sau khi mua ma túy của L thì H đã tự ý đi ra phía sau buồng ngủ của L sử dụng hết chỗ ma túy vừa mua. Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp Cơ quan Công an thu giữ số tiền 600.000 đồng của Ngân Văn L. Cơ quan công an đã tạm giữ Ngân Văn L để điều tra về hành vi mua, bán trái phép chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Ngân Văn L khai nhận: Do là người nghiện ma túy nên Ngân Văn L đã 3 lần đi mua Heroine tại khu vực thôn N, xã N, huyện M của 01 người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. Cụ thể vào khoảng 17 giờ ngày 15/5/2024, L mua 800.000 đồng được khoảng 3 phân Heroine, L mang về sử dụng hết. Lần 2 vào khoảng 17 giờ ngày 18/5/2024, L mua 1.000.000 đồng Heroine mang về chia nhỏ bán cho nhiều người mà Lướm không quen biết được 2.000.000 đồng và vào khoảng 08 giờ ngày 20/5/2024, Ngân Văn L đang ở nhà thì Lục Văn HPhạm Tùng D cùng đến hỏi mua Heroine, L đồng ý bán, H, D mỗi người đưa cho L 100.000 đồng, L đưa cho H và D mỗi người một gói nhỏ Heroine, sau đó cả hai mang ma túy đi đâu thì L không biết. Lần thứ 3 vào khoảng 17 giờ ngày 20/5/2024, L mua 2.000.000 đồng heroine mang về, đến tối em trai L là Ngân Văn T2 cũng là người nghiện thấy L có ma túy nên đã hỏi, L bẻ 1 ít rồi cùng T2 sử dụng, số còn lại đến sáng 21/5/2024 khi vừa bán cho H và đang đưa cho D thì bị phát hiện. Khi Lục Văn H sử dụng ma túy tại khu vực phía sau buồng ngủ của L thì H không hỏi L và L cũng không biết việc H sử dụng ma túy tại nơi ở của mình do vị trí H sử dụng ma túy bị khuất tầm nhìn của L.

Lục Văn HPhạm Tùng D đều khai nhận: Ngày 20/5/2024, H và D rủ nhau đến nhà L mua ma túy sử dụng, H và D mỗi người đều cùng lúc đưa cho L 100.000 đồng và được L đưa cho mỗi người một gói Heroine, sau khi mua xong H và D đi lên đồi sau nhà L sử dụng hết. Ngày 21/5/2024, H tiếp tục đến rủ D đi mua ma túy tại nhà L, sự việc sau đó bị phát hiện như đã nêu trên.

Ngân Văn T2 khai: T2 là em trai L và cũng là người nghiện ma túy, tối 20/5/2024, T2 biết L có ma túy nên đã xin và được L cho sử dụng ma túy cùng. Ngoài ra T2 chưa lần nào mua ma túy của L, không biết việc Lướm mua bán trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 304/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

“Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Ngân Văn L trong gói giấy màu trắng có chữ, có khối lượng 0,06 gam (Không phẩy không sáu gam), là ma túy; loại Heroine.

Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Ngân Văn L trong gói nilon màu xám buộc túm một đầu, có khối lượng 3,14 gam (Ba phẩy mười bốn gam). 0,14 gam trích từ 3,14 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Heroine (H1) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất”

Tại Kết luận giám định số: 306/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: “03 (ba) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đ; 09 (chín) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000đ; 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000₫ (Năm mươi nghìn đồng). Tổng số 1.700.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Ngân Văn L đều là tiền thật”.

- Cáo trạng số: 35/CT-VKS-VC ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, truy tố Ngân Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b và c khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như trong bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

  • - Tuyên bố bị cáo Ngân Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm b và c khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo N văn Lướm từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành niêm phong số Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong cùng mảnh giấy gói, ninol gói; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc cháy dở; 01 mảnh giấy gói màu trắng.
  • - Tịch thu số tiền 400.000 đồng của Ngân Văn L.
  • - Trả lại cho bị cáo 1.200.000 đồng.
  • - Trả lại cho Phạm Tùng D 100.000 đồng.
  • - Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo

Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được học hành đầy đủ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, khối lượng ma túy ít. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Các vấn đề khác, Người bào chữa nhất trí với đề nghị của vị Đại diện Viện Kiểm sát.

Bị cáo không bổ sung gì thêm vào nội dung lời bào chữa.

- Bị cáo nói lời sau cùng, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc điều tra, truy tố bị cáo đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt và việc áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã được thu giữ, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, để có tiền và có ma túy sử dụng nên trong các ngày 15, 18 và 20/5/2024, Ngân Văn L đã 03 lần đi mua ma túy của 1 người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tại thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái. Sau khi mua được ma túy, L đã mang về chia nhỏ để bán cho nhiều người. Ngày 20/5/2024, tại nhà của Ngân Văn L thuộc thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái, Ngân Văn L cùng lúc bán cho Lục Văn HPhạm Tùng D mỗi người 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng/gói. Ngày 21/5/2024, cũng tại nhà của mình, L vừa bán cho Lục Văn H 01 gói Heroine và đang chuẩn bị giao cho Phạm Tùng D 01 gói Heroine thì bị bắt giữ. Ngoài 02 lần bán ma túy cho Lục Văn HPhạm Tùng D thì Ngân Văn L còn khai bán H2 cho nhiều người khác không quen biết.

Ngân Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo 03 lần mua ma túy sau đó 02 lần cùng lúc bán cho cả Lục Văn HPhạm Tùng D, hành vi đó đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được qui định tại Điều 251 BLHS.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng bởi tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, hủy hoại nhân cách con người, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, là nguyên nhân và điều kiện cho các tội phạm khác phát sinh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý của Nhà nước. Bị cáo có 2 lần bán ma túy cho Lục Văn HPhạm Tùng D vào ngày 20 và 21/5/2024 là đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Ngoài ra trong 02 lần bán ma túy cho Lục Văn HPhạm Tùng D thì đều được bị cáo thực hiện cùng thời gian, địa điểm cho cả 2 người là đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS. Với hành vi phạm tội như vậy xét thấy cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự khai ra lần phạm tội trước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” và “Tự thú” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy mặc dù đã được xóa án tích nhưng cần coi là người có nhân thân xấu.

Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nêu trên, HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù với mức phạt nghiêm khắc mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật và góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với 03 gam heroine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm lưu hành và 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong cùng mảnh giấy gói, ninol gói; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc cháy dở; 01 mảnh giấy gói màu trắng là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 2.200.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Lục Văn H, Phạm Tùng D và một số người khác trong các ngày từ 18 đến 20/5/2024, sau đó bị cáo đã sử dụng 2.000.000 đồng để tiếp tục mua ma túy để bán, còn lại 200.000 đồng bị thu giữ cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Lục Văn H, Phạm Tùng D vào ngày 21/5/2024 là tiền liên quan đến tội phạm cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 1.600.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang và số tiền thu giữ khi khám xét khẩn cấp trong đó có 400.000 đồng là tiền bán ma túy cho Lục Văn H, Phạm Tùng D trong các ngày 20 và 21/5/2024 sau khi tịch thu sung vào ngân sách nhà nước còn lại 1.200.000 đồng mặc dù số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng theo khoản 5 Điều 251 BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do vậy HĐXX thấy rằng cần tịch thu số tiền này của bị cáo.

[3] Về xử lý tài sản tạm giữ:

Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Phạm Tùng D không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho anh Phạm Tùng D.

[4] Các vấn đề khác trong vụ án:

Trong vụ án này bị cáo khai mua ma túy của người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tại khu vực thôn N, xã N, huyện M. Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi tối ngày 20/5/2024, khi biết L có ma túy, em trai của L là Ngân Văn T2 đã xin và được L cho sử dụng cùng. Ngân Văn LNgân Văn T2 đều là những người nghiện ma tuý cùng nhau sử dụng ma tuý nên hành vi cho Ngân Văn T2 sử dụng ma túy cùng của Ngân Văn L không phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Đối với Phạm Tùng D ngày 21/5/2024 đã mua 100.000 đồng ma túy của Ngân Văn L nhưng chưa được Lướm giao ma túy và khối lượng ma túy mà L dự định bán cho D là 0,06 gam Heroine chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Lục Văn H, Phạm Tùng D là những người nghiện ma túy có hành vi mua ma túy của Ngân Văn L để sử dụng, Ngân Văn T2 là người được L cho sử dụng ma túy. Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lục Văn H, Phạm Tùng D, Ngân Văn T2 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về án phí: Kiểm sát viên và người bào chữa đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo với lý do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là phù hợp cần được chấp nhận.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngân Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b và c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS: Xử phạt bị cáo Ngân Văn L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 21/5/2024.

Tịch thu một phần tài sản là số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) của bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho anh Phạm Tùng D số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
  • - Tịch thu 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành niêm phong 3 gam heroine còn lại sau khi giám định; 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong cùng mảnh giấy gói, ninol gói; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc cháy dở; 01 mảnh giấy gói màu trắng; 03 vỏ phong bì sau khi mở niêm phong lấy tiền tịch thu và lấy tiền trả lại cho Phạm Tùng D.

Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Tùng D có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Văn Chấn;
  • - Công an huyện Văn Chấn (2b);
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ,
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục thuế huyện Văn Chấn;
  • - Chi cục hải quan tỉnh Yên Bái;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Nguyễn Thắng

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo Hoàng Văn T3 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị T4 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN CHẤN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 23 tháng 7 năm 2024.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn T5.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Trung L1 và ông Hoàng Đình M.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo Ngân Văn L (tên gọi khác không), sinh năm 01/01/1981, tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

[2]Tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập.

Các chứng cứ, tài liệu được thu thập, đúng trình tự, hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

[3] Căn cứ kết tội bị cáo, tội danh, tình tiết giảm nhẹ, điều luật áp dụng.

- Có căn cứ kết tội bị cáo Ngân Văn L phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

- Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 và khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm r,s khoản 1 Điều 51, các điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

[4] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Ngân Văn L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/5/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu một phần tài sản là số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) của bị cáo

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

[5] Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, tài sản đồ vật tạm giữ:

  • - Trả lại cho anh Phạm Tùng D số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
  • - Tịch thu 400.000 đồng của bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành niêm phong 3 gam heroine còn lại sau khi giám định; 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong cùng mảnh giấy gói, ni nol gói; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc cháy dở; 01 mảnh giấy gói màu trắng; 03 vỏ phong bì sau khi mở niêm phong lấy tiền tịch thu và lấy tiền trả lại cho Phạm Tùng D.

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

[6]. Miễn án phí HSST cho bị cáo

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Tùng D có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3.

Ý kiến khác: Không.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 7 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN CHẤN

TỈNH YÊN BÁI

Số: 47/2024/HSST-QĐTG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Văn Chấn, ngày 23 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn T5.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình M và ông Dương Trung L1.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo Ngân Văn L (tên gọi khác không), sinh ngày 01/01/1981 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Trú tại: Thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (Bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Nhà tạm giữ công an huyện V, tỉnh Yên Bái có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Văn Chấn;
  • - Nhà TG;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Nguyễn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân Văn L mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger