|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 22-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Minh – Giáo viên, Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp, Giáo dục thường xuyên huyện Ninh Phước.
- Bà Lê Thị Hường – Cán bộ hưu trí nguyên là Giáo viên.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: bà Lưu Thị Kim Thuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 23-7-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Hán Văn K - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/02/2008, tại Ninh Thuận; Nơi thường trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Chăm Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Bà la môn; cha: Hán Văn T; mẹ: Thiên Thị N; Vợ, con: không.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 14/8/2023 có hành vi trộm cắp tài sản bị UBND thị trấn P xử phạt bằng hình thức cảnh cáo theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 309/QĐ-XPHC ngày 25/8/2023;
+ Ngày 30/7/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản tại bản án số 33/2024/HSST ngày 30/7/2024.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
2. Tạ Văn H - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 03/4/2007 tại Ninh Thuận; Nơi thường trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam cha: Tạ Toàn; mẹ: Đổng Thị Đ; Vợ con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Thành P - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/02/2008 tại Ninh Thuận; Nơi thường trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; cha: L; mẹ: Võ Thị Xuân L; Vợ con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
4. Thiên Thị N - Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 09/7/1992, tại Ninh Thuận; Nơi thường trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Chăm Tôn; giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam; cha: (Không xác định); mẹ: Thiên Thị D; Chồng: Hán Văn T, có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2005, nhỏ nhất sinh năm 2016;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Hán Văn K: ông Hán Văn T– Sinh năm: 1984; địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Tạ Văn H: bà Đổng Thị Đ - Sinh năm: 1976; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt tại phiên tòa;
Đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Thành P: bà Võ Thị Xuân L - Sinh năm: 1978; địa chỉ: thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt tại phiên tòa;
Người bào chữa cho các bị cáo Hán Văn K, Lê Thành P, Tạ Văn H: bà Đinh Thị N1 – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: cháu Trà Văn Hoàng H1 – sinh ngày: 06/02/2009; địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt tại phiên tòa;
Đại diện hợp pháp của bị hại: ông Trà Văn B – Sinh năm: 1970; địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt tại phiên tòa;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: bà Hoàng Thị Thanh T1 - Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận tham gia tố tụng: ông Trịnh Văn M – Bí thư Đoàn xã P – Có mặt tại phiên tòa;
Đại diện Ủy ban nhân dân T nơi bị cáo Hán Văn K cư trú đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do;
Đại diện Ủy ban nhân dân xã P nơi bị cáo Lê Thành P và bị hại Trà Văn Hoàng H2 cư trú đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do;
Đại diện Trường THCS Đ1 nơi bị hại đang theo học: ông Trương Thành P1 (Phó Hiệu trưởng) – Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 05/3/2024, K điều khiển xe máy biển số 85E1-202.31 chở P và H đi từ nhà P ở thôn N, xã P qua thôn T xã P để về nhà K ở khu phố M, thị trấn P. Khi đi đến khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn T, xã P lúc này K nhìn thấy có 03 chiếc xe máy chạy ngược chiều và sắp va chạm nhưng Khang tránh được. K quay đầu nhìn lại, thấy những người này nhìn lại, cho rằng bị nhìn đểu nên K nói với H3 và P ngồi sau xe là quay lại đuổi theo để đánh và có điện thoại thì lấy. Sau khi quay xe lại, K đuổi kịp và ép 01 chiếc xe hiệu Sirius biển số 85NP-00291 do cháu N2 điều khiển chở cháu H2 dừng lại. K hỏi lý do tại sao lại nhìn đểu K và có điện thoại không đưa K mượn thì cháu N2 và cháu H2 nói không có. Đồng thời lúc này, có một số em nhỏ đi qua K nghĩ là đồng bọn của N2 và H2 nên chặn lại hỏi có điện thoại không cho mượn thì những người này nói không có. Sau đó, K nhìn thấy trong túi quần cháu H2 có một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu xanh, K đi đến chỗ H và P và nói “Lấy không” thì H trả lời là “Lấy thì lấy”. Được H và P đồng ý, K quay lại nói cháu H2 là “đưa điện thoại anh nói chuyện với bạn xíu” thì cháu H2 nói là điện thoại hết tiền rồi, K ngay lập tức dùng tay trái nắm cổ áo H2, tay phải cầm chìa khóa chìa khóa xe chỉ thẳng vào mặt cháu H2 nói “Mày đưa điện thoại đây không tao đánh”. H2 sợ quá lấy điện thoại ra và K giật lấy điện thoại đưa cho H và cả 03 lên xe đi về nhà K, trên đường về sợ bị phát hiện các bị cáo còn dùng giấy dán biển số xe lại.
Đến chiều ngày 06/3/2024 K, P và H bàn bạc bán điện thoại lấy tiền tiêu dùng cá nhân, sau đó K bán điện thoại cho mẹ K là Thiên Thị Năng . Do nghi ngờ điện thoại K có được từ hành vi bất chính nên N hỏi K “Điện thoại từ đâu mà có”, K trả lời là do bọn nó lấy. Biết rõ điện thoại K, P và H có được từ hành vi trái pháp luật, tuy nhiên do thấy rẻ, điện thoại còn đẹp nên N đồng ý mua lại với giá 200.000 đồng.
Cáo trạng số 38/CT-VKS-HS ngày 22-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước đã truy tố Hán Văn K, Lê Thành P và Tạ Văn H về tội “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự; truy tố Thiên Thị N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hán Văn K, Lê Thành P và Tạ Văn H phạm tội “Cướp tài sản”; tuyên bố Thiên Thị N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:
Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Hán Văn K từ 15 đến 18 tháng tù;
Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Thành P từ 06 đến 09 tháng tù.
Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tạ Văn H từ 06 đến 09 tháng tù.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Thiện Thị N3 từ đến 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Người bào chữa cho các bị cáo tranh luận: Thống nhất tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát viên tại phiên tòa. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo còn nhỏ, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị xem xét mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát cho các bị cáo, tạo điều kiện để các bị cáo được giáo dục và sớm trở về với gia đình, xã hội, đảm bảo nguyên tắc xét xử đối với bị cáo là người chưa thành niên phạm tội.
Đại diện hợp pháp của các bị cáo, bị cáo không trình bày bổ sung.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã P nơi bị cáo Tạ Văn H cư trú tranh luận xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tranh luận: thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về xử lý đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cần nhắc áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm đảm bảo tính răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Về trách nhiệm dân sự do bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không tranh luận.
Đại diện hợp pháp của bị hại: thống nhất với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện nhà trường nơi bị hại học tập thống nhất với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và không trình bày bổ sung.
Bị cáo Thiên Thị N không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa vắng mặt đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn P nơi bị cáo Hán Văn K cư trú; vắng mặt đại diện Ủy ban nhân dân xã P nơi bị cáo Lê Thành P và bị hại cư trú. Xét Tòa án đã có văn bản đề nghị cử người tham gia tố tụng để bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa có mặt đại diện hợp pháp của các bị cáo, bị hại, người bào chữa cho các bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và đều có ý kiến đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xet xử vụ án.
[3]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp chứng cứ khách quan được thu thập có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên có đủ cơ sở để xác định được:
3.1. Đối với hành vi cướp tài sản:
Nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của cháu H2 là người dưới 16 tuổi, nên vào lúc 19 giờ ngày 05/3/2024 các bị cáo K, P và H có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc buộc cháu H2 phải giao điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu xanh cho các bị cáo, sau khi chiếm đoạt được điện thoại các bị cáo đã bán được 200.000 đồng và tiêu dùng cá nhân hết.
Điều 168 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
Đối chiếu quy định trên có đủ căn cứ xác định hành vi nêu trên của các bị cáo Hán Văn K, Lê Thành P và Tạ Văn H4 phạm tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp định khung là phạm tội đối với người dưới 16 tuổi quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng tuy tố là có căn cứ.
Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trong đó: bị cáo K là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo P và H cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người giúp sức về tinh thần cho K trực tiếp thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực trực tiếp chiếm đoạt tài sản của cháu H2.
Xét bị cáo K trong giấy khai sinh ghi ngày sinh là 14/02/2008; bị cáo P giấy khai sinh ghi ngày sinh là 20/02/2009 và đều đăng ký khai sinh trễ hạn. Nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng đã trưng cầu giám định độ tuổi của K và P. Tại kết luận số 1841/KLGĐ-C09B ngày 12/3/2024 của Phân hiệu khoa học hình sự Bộ C kết luận Hán Văn K có độ tuổi từ 15 năm 10 tháng đến 16 năm 04 tháng; Tại kết luận số 3106/KLGĐ-C09B ngày 21/5/2024 của Phân hiệu khoa học hình sự Bộ C đã kết luận Lê Thành P có độ tuổi từ 15 năm 03 tháng đến 15 năm 09 tháng. Căn cứ khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 6/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ C và Bộ L1 trong trường hợp này xác định tính đến thời điểm phạm tội K có độ tuổi là 15 năm 10 tháng; P có độ tuổi là 15 năm 03 tháng. Đối với Tạ Văn H thì tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội H đủ 16 tuổi và dưới 18 tuổi.
Xét bị cáo K trực tiếp rủ rê, lôi kéo bị cáo Lê Thành P là người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo K phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo P và H không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại về tinh thần cho bị hại được bị hại, gia đình bị hại chấp nhận và làm đơn bãi nại cho các bị cáo; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo P và H còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên, Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đó là “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nội dung này Hội đồng xét xử thấy: các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tài sản, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường về tâm lý đối với bị hại là người dưới 16 tuổi, thực tế bị hại đã sợ hãi, lâm vào tình trạng không thể chống cự trước hành vi hung hãn của các bị cáo và buộc phải giao tài sản của cho các bị cáo chiếm đoạt nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” cho các bị cáo.
Xét các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, phạm tối đối với người dưới 16 tuổi nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng để giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.
Như đã phân tích ở trên, bị cáo K là người cầm đầu, xúi dục các bị cáo khác và là người thực hành, bị cáo có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt đối với K phải nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo P và H đều là người dưới 18 tuổi (P dưới 16 tuổi), có vai trò là đồng phạm giúp sức về tinh thần nên khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cần xem xét khoan hồng nhằm mục đích giáo dục các bị cáo là chính, đảm bảo đúng nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Đối với quan điểm bào chữa cho các bị cáo; ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại được Hội đồng xét xử xem xét và cần nhắc khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, đảm bảo việc áp dụng hình phạt vừa có tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.3]. Đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Thiên Thị N khai nhận: bị cáo biết rõ chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu xanh do bị cáo K bán là tài sản có được từ hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo thấy rẻ nên vẫn mua nhằm mục đích sử dụng.
Điều 323 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đối chiếu quy định trên có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Thiên Thị N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo ngoài động cơ phạm tội là thấy tài sản bán với giá rẻ thì cần phải xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật có phần hạn chế dẫn tới phạm tội. Đây là tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để bị cáo nhận thức hành vi sai trái, trở thành công dân tốt. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có mức thu nhập thấp nên không khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Về xử lý vật chứng: Không.
[5]. Trách nhiệm dân sự trong vụ án: không xem xét do không có yêu cầu.
[6]. Về án phí:
Xét bị cáo Hán Văn K, Lê Thành P khi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Tạ Văn H, Thiên Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
Các bị cáo: Hán Văn K, Tạ Văn H và Lê Thành P phạm tội “Cướp tài sản”.
Bị cáo Thiên Thị N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
1. Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Hán Văn K: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 08/3/2024).
2. Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Tạ Văn H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 08/3/2024)
3. Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Lê Thành P 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17/3/2024).
4. Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thiên Thị N 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Thiên Thị N cho Ủy ban nhân dân thị trấn P nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hán Văn K, Lê Thành P;
Buộc bị cáo Tạ Văn H, Thiên Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bịcáo, bị hại, đại dieẹn hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (22/8/2024) có mặt tại phiên tòa có .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về vụ án hình sự (cướp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Cướp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hán Văn K và đồng phạm phạm tội Cướp tài sản theo khoản 2 Điều 168 BLHS
