|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 21 tháng 6 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn An Hữu và ông Hứa Hoàng Thảo.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Hải Cảng và ông Trần Quách Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Xuân K, sinh ngày 10/10/1981 tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số E N, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Ngô Bội H1; vợ là Trần Thị Hương T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
- Hà Văn S, sinh ngày 01/01/1963 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ F, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo T; trình độ văn hóa: không biết chữ; con ông Hà Văn T1 và bà Nguyễn Thị N; vợ là Huỳnh Thị P và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
- Nguyễn Tấn P1, sinh ngày 10/5/1978 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ F, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo T; trình độ văn hóa: không biết chữ; con ông Nguyễn Văn Ở và bà Huỳnh Thị S1; vợ là Huỳnh Thị Thu T2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
2
- Nguyễn Hoài T3, sinh ngày 24/9/2001 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ F, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công Giáo; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Thị H2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
- Lý Thị H3, (còn có tên gọi khác là H4), sinh ngày 30/10/1976 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số D C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lý Chập L và bà La Thị T4; chồng là Trần Lâm V và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
- Lâm Văn P2, sinh ngày 08/3/1983 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở: Khu dân cư K, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Lâm Gia R và bà Nguyễn Thị S2; vợ là Hà Thị Thúy A và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa:
- Người bào chữa cho các bị cáo Hà Văn S, Nguyễn Tấn P1, Nguyễn Hoài T3: Luật sư Hồ Hoàng P3 - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A, tổ A, đường T, phường M, thành phố L (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Thị H3: Luật sư Lê Lâm T5 và ông Nguyễn Quốc K1 - Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A, đường L, phường M, thành phố L (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân K: Luật sư Đặng Văn K2 - Văn phòng Luật sư Đặng Văn K2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số B, đường N, khóm A, phường M, thành phố L (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Lâm V, sinh năm 1975; trú tại: khóm E, phường C, thành phố C (có mặt).
- Bà Trần Thị Hương T, sinh năm 1980.; trú tại: khóm E, phường C, thành phố C (có mặt)
- Ông Lý Kim D1, sinh năm 1973; trú tại: khóm E, phường C, thành phố C (có mặt)
- Bà Trần Thị Tường V1, sinh năm 1974; trú tại: khóm E, phường C, thành phố C (có mặt)
- Ông Nguyễn Bão D2, sinh năm 2000; trú tại: khóm V, phường V, thành phố C (vắng mặt)
3
- Bà Nguyễn Thị Hồng P4, sinh năm 1989; trú tại: khóm H, phường V, thành phố C (có mặt)
- Bà Huỳnh Thị T6, sinh năm 1954; trú tại: khóm T, thị trấn L, huyện A (có mặt).
- Bà Hà Thị Thúy A, sinh năm 1988; trú tại: khóm T, thị trấn L, huyện A (có mặt).
- Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1994; trú tại: ấp P, xã P, huyện A (có mặt).
Người làm chứng: ông/bà La Thị T4 (có mặt), Trần Văn Đ (vắng mặt), Lê Thị Thu T7 (vắng mặt); Trần Thị Thanh T8 (có mặt), Huỳnh Thị Mai V2 (có mặt), Trần Bảo Tuyết A1 (có mặt), Lý Thị Ngọc Y (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 ngày 25/7/2023, Công an tỉnh A kết hợp Đồn Biên phòng và Chi cục Hải quan cửa khẩu L4 (thuộc địa bàn huyện A, tỉnh An Giang) tuần tra kiểm soát tuyến biên giới. Theo đó, phát hiện xuồng gỗ có gắn máy do Nguyễn Tấn P1 điều khiển trên sông B (dòng sông chung giữa biên giới Việt Nam - Campuchia) hướng từ Campuchia về Việt Nam (thuộc khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang) có dấu hiệu vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới nên ra tín hiệu dừng phương tiện để kiểm tra. Lúc này, P1 nhảy xuống sông bỏ trốn, bỏ lại xuồng gỗ, trên xuồng có một bao nilon màu đen bên trong chứa 10 gói được quấn băng keo màu vàng, gồm: 01 gói hình hộp chữ nhật quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “076 L+D+B+M”; 01 gói hình hộp chữ nhật quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “076”; 01 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “K2 13”; 01 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “15x4=60 Kim Yen 2"; 01 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “K Yến 2 11”; 01 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “9970 7912 18K 16L ②"; 01 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “K2 10L”; 02 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “484”; 01 gói quấn băng keo màu vàng xung quanh, có ký tự “20x4=80 Kim Yen 3”, kiểm tra bên trong các gói này có nhiều trang sức kim loại nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản tạm giữ phương tiện và niêm phong tang vật để xử lý.
Ngày 25/7/2023, Hà Văn S, Nguyễn Hoài T3, Lâm Văn P2 đến Công an tự thú và ngày 26/7/2023 Nguyễn Tấn P1 đến Công an đầu thú, cùng khai nhận tham gia vận chuyển trái phép số trang sức bằng vàng nêu trên từ Campuchia về Việt Nam để giao cho Nguyễn Xuân K (chủ tiệm V5) và Lý Thị H3 (chủ tiệm V5) hưởng tiền công. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc đối với Lý Thị H3, Nguyễn Xuân K, Hà Văn S, Nguyễn Tấn P1, Huỳnh Thị T6 thu giữ trên 14 kg vàng (trong đó có nhiều cục kim loại vàng trọng lượng khoảng 1,2085kg và vàng nữ trang trọng lượng khoảng 13,325kg), nhiều đồ vật, tài liệu, tài sản có liên quan gồm: 08 điện thoại di động, 01 cái Ipad, 01 xe mô tô Lead màu nâu xám biển số 67G1 – 801.48, tiền Việt
4
Nam 29.745.000 đồng, 01 hộp giấy có ký hiệu “484” và nhiều bao nilon đen, bao giấy có ghi ký hiệu “484”, “076” tại tiệm V6; 02 hộp nhựa có ghi ký hiệu “12484” và “13£484” tại tiệm V5 Trà của K.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 02/2023 đến ngày 25/7/2023, Nguyễn Xuân K (chủ tiệm V5) và Lý Thị H3 (chủ tiệm V5) được người tên L1 và S3 (chưa rõ lai lịch, sống tại Campuchia) đến gặp thỏa thuận sẽ đưa vàng nữ trang đã qua sử dụng từ Campuchia cho K và H3 gia công thành vàng nữ trang mới, với tiền công từ 70.000 đến 130.000 đồng/lượng. Việc giao nhận vàng nguyên liệu và vàng thành phẩm do K và H3 liên hệ thuê nhóm Hà Văn S thực hiện bằng cách: S nhận vàng nguyên liệu (vàng nữ trang cũ hoặc vàng thỏi) từ người tên K3 tại Campuchia rồi vận chuyển về Việt Nam giao cho K và H3; Sau khi gia công xong thì K và H3 sẽ liên hệ để giao vàng nữ trang thành phẩm cho S vận chuyển sang Campuchia giao cho L1 và S3; khi S vận chuyển vàng từ Campuchia về Việt Nam sẽ do L1 và S3 trả tiền công, còn khi vận chuyển vàng từ Việt Nam sang Campuchia sẽ do K và H3 trả tiền công mỗi lần vận chuyển là 10.000 đồng/lượng.
Theo đó, S kêu P1, T3 và P2 cùng tham gia vận chuyển vàng trái phép qua lại biên giới Việt Nam -Campuchia, với cách thức như sau: Khi được K, H3 liên hệ thì S kêu T3 và P2 đến các tiệm vàng Kim Yến H5, Kim Yến T9 để nhận vàng mang về tập kết tại tiệm V6 (địa chỉ tổ C, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang) do K thuê lại của Huỳnh Thị T6; tại đây, S sẽ phân vàng vào bao nilon rồi kêu P1 điều khiển xuồng máy vận chuyển vàng qua Campuchia giao cho K3. Khi được liên hệ nhận vàng từ Campuchia thì S kêu P1 điều khiển xuồng máy đến gặp K3 nhận vàng mang về tiệm V6 để S phân loại và T3, P2 đem vàng đi giao cho các tiệm vàng, nêu gói vàng có ký hiệu “1, K1, K, 076” thì giao cho tiệm V5 của H5; gói vàng có ký hiệu “2, 484, K, K2” thì giao cho tiệm V5 Trà của K; gói vàng có ký hiệu “3, K, K3” thì giao cho tiệm V5. Khi P1 vận chuyển vàng qua lại biên giới Việt Nam - Campuchia thì S và T3 sẽ còn có nhiệm vụ canh đường, nếu phát hiện có lực lượng chức năng sẽ thông báo cho P1 biết.
Trưa ngày 25/7/2023, K và H5 kêu S đến nhận vàng đã gia công thành phẩm để vận chuyển sang Campuchia, S kêu P2 đến tiệm V5 Trà của K gặp D2 nhận khoảng 220 lượng vàng thành phẩm (trong đó có 170 lượng vàng 18kara 59%, 50 lượng là hột đính đá không có giá trị) và 2.200.000 đồng tiền công; T3 đến tiệm V5 để gặp H5 nhận 110 lượng vàng thành phẩm (trong đó có 67 lượng vàng 18kara 59%, 43 lượng là hột đính đá không có giá trị) và 1.100.000 đồng tiền công vận chuyển. Sau khi T3 và P2 đem vàng về tiệm V6, S cùng T3 để vàng vào bao nilon màu trắng rồi giao cho P1 dùng xuồng máy vận chuyển sang Campuchia giao cho K3. Đến chiều tối cùng ngày, S kêu P1 sang Campuchia nhận vàng, P1 điều khiển xuồng máy sang Campuchia gặp K3 nhận 01 bao nylon màu đen bên trong chứa vàng rồi vận chuyển qua sông B về đến bờ Việt Nam thì bị lực lượng Công an phát hiện buộc dừng phương tiện kiểm tra, sợ bị bắt nên P1 đã nhảy xuống sông bỏ trốn như nội dung đã nêu trên.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
5
Tại Kết luận giám định số 5069/KL-KTHS ngày 03/8/2023 và 07/9/2023 của Phân Viện khoa học Kỹ thuật Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Các kim loại màu vàng gửi đi giám định có thành phần chủ yếu là V2 (Au).
Tại Kết luận định giá tài sản số: 09.08/KL.HĐĐGTS ngày 11/8/2023; số 09.15/KL.HĐĐGTS ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh An Giang, kết luận số vàng thu giữ trên xuồng gỗ ngày 25/7/2023 niêm phong trong thùng số 1 có giá trị như sau:
- Gói 1: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng (nhiều mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng 470,58 gam, khối lượng đá gắn trên sản phẩm nữ trang là 17,3411 gam. Tổng khối lượng sau khi trừ đá: 453,2389 gam (470,58 gam - 17,3411 gam), có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình là 60,61%. Trị giá: 411.383.798 đồng.
- Gói 2: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 23,95%; tổng khối lượng: 290,95 gam, quy đổi thành: 7,759 lượng vàng. Trị giá: 106.818.153 đồng.
- Gói 3: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu (vài mẫu có đính đá), có tổng khối lượng 2067,42 gam, tổng khối lượng đá gắn trên sản phẩm nữ trang là 20,9775 gam. Tổng khối lượng sau khi trừ đá: 2046,4425 gam (2067,42 gam - 20,9775gam), có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 23,90%. Trị giá: 749.721.516 đồng.
- Gói 4: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu (vài mẫu có đính đá), có tổng khối lượng 605,21 gam, tổng khối lượng đá gắn trên sản phẩm nữ trang là 5,9475 gam. Tổng khối lượng sau khi trừ đá: 599,2625 gam (605,21 gam - 5,9475 gam), có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 58,96%. Trị giá: 529.115.275 đồng.
- Gói 5: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 572,98 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 60,01%. Trị giá: 514.918.876 đồng.
- Gói 6: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 506,39 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 98,33%. Trị giá: 745.670.364 đồng.
- Gói 7: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 776,91 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,52%. Trị giá: 692.483.384 đồng.
- Gói 8: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 606,56 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,38%. Trị giá: 539.373.597 đồng.
- Gói 9: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 426,26 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 61,57%. Trị giá: 393.024.349 đồng.
6
- Gói 10: 01 (một) thỏi kim loại màu vàng hình chữ nhật, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 99,62%; tổng khối lượng: 1000,00 gam, quy đổi thành: 26,667 lượng vàng. Trị giá: 1.482.871.869 đồng.
- Gói 11: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 2379,47 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,67%. Trị giá: 2.126.238.582 đồng.
- Gói 12: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 1416,33 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,04%. Trị giá: 1.252.236.983 đồng.
- Gói 13: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng - nâu, tổng khối lượng: 2238,76 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,78%. Trị giá: 2.004.191.299 đồng.
- Gói 14: 03 (ba) thỏi kim loại màu vàng hình chữ nhật, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 99,77%; tổng khối lượng: 3000,02 gam, quy đổi thành: 80,00 lượng vàng. Trị giá: 4.456.400.000 đồng.
- Gói 15: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu (vài mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng: 378,20 gam, khối lượng đá gắn trên sản phẩm nữ trang là 14,7038 gam. Tổng khối lượng sau khi trừ đá: 363,4962 gam (378,20 gam - 14,7038 gam), có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 62,17%. Trị giá: 338.420.346 đồng.
Tổng số vàng có giá trị: 16.342.868.391 đồng, trong đó:
- Vàng vận chuyển về giao cho Nguyễn Xuân K có 10 gói (gói số 01, 02, 03, 04, 05, 06, 08, 09, 13, 14) để trong thùng số 1, tổng trọng lượng là 10,7851 kg, có giá trị là 10.450.617.227 đồng.
- Vàng giao cho Lý Thị H3 có 04 gói (gói số 10, 11, 12, 15) trong thùng số 1, tổng trọng lượng là 5,174 kg, có giá trị là 5.199.767.780 đồng
- Vàng kí hiệu Kim Yến 3 có 01 gói (gói số 07 trong thùng số 1), tổng trọng lượng là 0,7769 kg, có giá trị: 692.483.384 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03.06/KL.HĐĐGTS, ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh An Giang, kết luận:
- 170 lượng vàng có độ tuổi (hàm lượng vàng) 59%, trị giá: 5.632.587.220 đồng.
- 67 lượng vàng có độ tuổi (hàm lượng vàng) 59%, trị giá: 2.219.902.022 đồng.
Tổng cộng: 7.852.489.242 đồng.
Trần Văn B, Trần Văn V3, S, Trương Thanh H6 Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKSAG-P1 ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Xuân K, Hà Văn S, Nguyễn Tấn P1, Nguyễn Hoài T3, Lý Thị H3, Lâm Văn P2 về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo quy định tại
7
khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Các bị cáo K, S, P1, T3, H3, P2 cùng khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lý Kim D1 (Én) và bà Trần Thị Tường V1 (P3) cùng khai: Kinh doanh tiệm V5 từ tháng 01/2020 đến nay. Hàng ngày chỉ mua bán, trao đổi vàng với khách hàng tại thành phố C. Tiệm V5 không có tên gọi nào khác, từ trước đến nay không có thuê S vận chuyển vàng trái phép qua lại biên giới Việt Nam - Campuchia. Số vàng bị phát hiện bắt quả tang ngày 25/7/2023, có ký hiệu “Kim Yen 3”, trọng lượng khoảng 0,785kg không phải của tiệm V5.
- Ông Trần Lâm V (chồng bị cáo Lý Thị H3) và Trần Thị Hương T (vợ của bị cáo Nguyễn Xuân K) cùng khai: Việc kinh doanh vàng, quản lý tiền bạc là do H3 và K thực hiện; không biết việc H3, K thuê S và những người khác vận chuyển vàng trái phép qua lại biên giới Việt Nam - Campuchia.
- Bà Nguyễn Thị Hồng P4 trình bày: P4 là nhân viên làm thuê cho Nguyễn Xuân K tại tiệm V5. Vào ngày 25/7/2023, P4 được K kêu lấy 04 hộp đựng vàng và số tiền 2.200.000 đồng để vào bọc nilon màu đen, do P4 bận việc nên nhờ D2 giao cho P2. Trước đó, P4 đã nhiều lần giao vàng nữ trang đã gia công cho P2 theo yêu cầu của K, mỗi lần vàng được để trong hộp giấy quấn băng keo màu vàng, có ghi ký hiệu “484”, trọng lượng khoảng 05-06kg, không biết P2 vận chuyển vàng đem qua Campuchia.
- Bà Huỳnh Thị T6 cho biết: Từ năm 2020 có cho K thuê tiệm V6 để mua bán vàng. Ngày 25/7/2023, T6 đến bãi đậu xe tải của con để trông chừng việc thu tiền bến bãi, không biết việc S, T3 vào tiệm vàng Ngọc T10 phân chia vàng và vận chuyển qua Campuchia. Từ trước đến nay không tham gia việc vận chuyển vàng cùng với S. Yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 67G1 - 801.48.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo cùng phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
- Áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 35, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K từ 06 năm đến 07 năm tù; phạt bổ sung từ 30.000.000 - 50.000.000₫ sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 3 Điều 189; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
8
khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn S từ 06 năm đến 07 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Áp dụng khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P1 từ 05 năm đến 06 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Áp dụng khoản 3 Điều 189; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T3 từ 04 năm đến 05 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Áp dụng khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Lý Thị H3, mức phạt 3.000.000.000₫ sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; khoản 2 Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Văn P2 từ 03 năm đến 04 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Áp dụng các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 17 thùng giấy catton có ghi ký hiệu “484”; 09 thùng giấy catton có ghi ký hiệu “076”; 05 thùng giấy catton không ghi ký hiệu; 197 bọc quay sách màu đen; 02 thùng giấy catton có ký hiệu “484”.
-
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
-
+ Một thùng giấy catton màu trắng xanh bên ngoài có ký hiệu 484, bên trong có 03 hộp nhựa và bọc nylon màu vàng được hàn kín bằng keo màu vàng bên trong có chứa nhiều kim loại màu vàng, gồm:
- + Gói 1: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng (nhiều mẫu trang sức có đính đá), tổng khối lượng: 470,30 gam; được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 60,61%.
- + Gói 2: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng, tổng khối lượng cả bao bì là 290,78 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phân kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 23,95%.
- + Gói 3: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu (vài mẫu có đính đá), có tổng khối lượng 2067,30 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 23,90%.
- + Gói 4: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu (vài mẫu có đính đá), có tổng khối lượng 605,14 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 58,96%.
-
+ Một thùng giấy catton màu trắng xanh bên ngoài có ký hiệu 484, bên trong có 03 hộp nhựa và bọc nylon màu vàng được hàn kín bằng keo màu vàng bên trong có chứa nhiều kim loại màu vàng, gồm:
9
- + Gói 5: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 572,68 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 60,01%
- + Gói 6: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 505,83 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 98,33%.
- + Gói 7: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 776,62 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,52%.
- + Gói 8: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 606,12 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,38%.
- + Gói 9: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 425,85 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 61,57%.
- + Gói 10: 01 (một) thỏi kim loại màu vàng hình chữ nhật, tổng khối lượng: 1000,01 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 99,62%.
- + Gói 11: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 2379,05 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,67%.
- + Gói 12: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 1416,04 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,04%.
- + Gói 13: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu, tổng khối lượng: 2238,51 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 59,78%.
- + Gói 14: 03 (ba) thỏi kim loại màu vàng hình chữ nhật, tổng khối lượng: 3000,03 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 99,77%.
- + Gói 15: Nhiều mẫu trang sức bằng kim loại màu vàng – nâu (vài mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng: 378,01 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 62,17%.
- + 01 xuồng gỗ dài 7,46m, rộng nhất 1,05m, hẹp nhất mũi xuồng 0,18m, khoang sâu nhất trên xuồng 0,365m, phía sau xuồng có động cơ máy màu đỏ.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: Nokia 150, có số IMEI 1: 350085531110747 và số IMEI 2: 350085531610746 (Nguyễn Tấn P1).
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: Nokia 8800e, có số IMEI: 358645016848483 (H).
10
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: N1 110 4G, có số IMEI 1: 359097702190169 và số IMEI 2: 359097702690168 (Nguyễn Xuân K).
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 13 Pro, có số IMEI 1: 355786372921853 và số IMEI 2: 355786372577473 (Lý Thị H3).
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone Xs Max, có số IMEI 1: 357276090936696 và số IMEI 2: 357276091210042 (Nguyễn Hoài T3).
- + 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Future neo FI, biển số: 67G1–541.42, số máy: JC45E0003866, số khung: RLHJC35059Y616524 (Nguyễn Hoài T3).
- Buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính: Nguyễn Xuân K 80.000.000 đồng, Lý Thị H3 25.000.000 đồng, Hà Văn S 3.500.000 đồng, Nguyễn Tấn P1 3.500.000 đồng, Nguyễn Hoài T3 3.500.000 đồng và Lâm Văn P2 2.000.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền sau đây để đảm bảo cho việc thi hành án:
- + Tiền Việt Nam: 126.145.000 đồng (thu giữ khi khám xét 26.145.000 đồng và Nguyễn Xuân K tự nguyện nộp 100.000.000 đồng).
- + Tiền Việt Nam: 7.100.000 đồng (thu giữ khi khám xét 3.600.000 đồng và Nguyễn Tấn P1 tự nguyện nộp 3.500.000 đồng).
- + Tiền Việt Nam: 3.100.000.000 đồng do Lý Thị H3 tự nguyện nộp.
- + Tiền Việt Nam: 3.500.000 đồng do Hà Văn S tự nguyện nộp.
- + Tiền Việt Nam: 4.500.000 đồng do Nguyễn Hoài T3 tự nguyện nộp.
- + Tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng, do Lâm Văn P2 tự nguyện nộp.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân K:
- + Gói 1: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1325,41 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 25,54%.
- + Gói 2: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1495,48 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 22,96%.
- + Gói 3: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1421,32 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 25,34%.
- + Gói 4: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1500,49 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 23,63%.
- + Gói 5: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1400,52 gam, có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 25,48%
- + Gói 6: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 953,91 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm
11
lượng trung bình 24,42%
- + Gói 7: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1116,02 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 23,85%
- + Gói 8: Trang sức kim loại màu vàng (vài mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng: 554,31 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình 24,84%
- + Gói 9: Trang sức kim loại màu vàng (vài mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng: 58,12 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 27,31%
- + Gói 10: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 65,05 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 22,59%
- + Gói 11: Trang sức kim loại màu vàng (vài mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng: 216,55 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 25,78%
- + Gói 12: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 771,81 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 26,89%
- + Gói 13: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 1046,27 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 20,91%
- + Gói 14: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 210,28 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng trung bình 21,69%
- + Gói 15: Trang sức kim loại màu vàng (vài mẫu trang sức có đính đá), có tổng khối lượng: 473,29 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 24,22%
- + Gói 16: Trang sức kim loại màu vàng có tổng khối lượng: 712,32 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au), hàm lượng vàng trung bình là 26,74%
- + 01 đầu ghi hình camera không rõ nhãn hiệu, có số sêri: 100/240VNH16GK1850002.
- + 01 thiết bị Switches nhãn hiệu HRUI, có số sêri: 056432005050032.
- + 01 bộ hồ sơ liên quan hoạt động kinh doanh tiệm V6.
- + 01 thùng CPU máy tính nhãn hiệu TNI.
- + 01 thùng CPU máy tính nhãn hiệu VSP.
- + 01 thùng CPU máy tính nhãn hiệu DELL.
12
- + 01 thùng CPU máy tính nhãn hiệu DELL.
- + 01 đầu ghi hình camera nhãn hiệu MD, model: TSAHR-16590, số sêri: AH16590160100075.
- + 01 đầu ghi hình camera nhãn hiệu MD, model: TSAHR-16590, số sêri: TSAHR16590151200012.
- + 01 đầu ghi hình camera nhãn hiệu model: TSYDS-36KC, số sêri: 100/240VPH36HF1980004.
- Trả lại bị cáo Lý Thị H3:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 14 Pro Max, có số IMEI 1: 351344354483684 và số IMEI 2: 351344356563616.
- + 01 máy tính bảng Ipad, hiện trạng thiết bị không mở nguồn được, không kiểm tra được số IMEI.
- + 01 thùng CPU máy tính nhãn hiệu DELL.
- + Nhiều cục kim loại màu xám đen, tổng khối lượng: 993,90 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 60,47%.
- + Nhiều cục kim loại màu vàng, tổng khối lượng: 212,25 gam, được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au); hàm lượng vàng trung bình là 98,22%.
- Trả lại bị cáo Hà Văn S:
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu bạc, có số IMEI: 355372084183791, hiện trạng thiết bị không mở nguồn được.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 11 Pro Max, có số IMEI 1: 353889101779758 và số IMEI 2: 353889101770567.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 13, có số IMEI 1: 354922764908940 và số IMEI 2: 354922763379259.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 8 Plus màu đỏ, có số IMEI: 352978099004435.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: Nokia 105, có số IMEI: 354275381318310.
- + Một xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số hiệu LEAD, màu xám, biển số 67G1-801.48, số máy JK12E0215342, số khung RLHJK1218NZ002964, đã qua sử dụng.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Hoài T3: Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 13 Pro Max, có số IMEI 1: 359984544850375 và số IMEI 2: 359984544841317.
- Trả lại bị cáo Lâm Văn P2: Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 11 Pro Max, có số IMEI 1: 353950101141298 và số IMEI 2: 353950101261385.
- Trả lại bà Huỳnh Thị T6:
- + Một đầu ghi hình camera nhãn hiệu Dahua, số sêri: 8C0375CPAZ4BF26.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: Nokia 3310, có số IMEI 1: 357329084294984 và số IMEI 2: 357329086294982.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: Nokia 230, có số IMEI 1: 357322082531135 và số IMEI 2: 357322084531133.
- + 05 quyển tập học sinh; 05 tờ lịch; 05 tờ giấy ghi tiền nợ và hoạt động kinh doanh tiệm V6.
- Trả lại Trần Lâm V: Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model:
25
Iphone 14 Pro, có số IMEI 1: 351942130629254 và số IMEI 2: 351942131027904.
- Trả lại Nguyễn Hoàng K4: Một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: N1 105 4G, có số IMEI 1: 357332565019680 và số IMEI 2: 357332565519689
(Các loại vật chứng, tiền tự nguyện giao nộp được quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lúc 09 giờ 30 phút ngày 02 tháng 5 năm 2024; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lúc 10 giờ 30 phút ngày 02 tháng 5 năm 2024; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh A với Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; Biên lai thu tiền số 0000615 ngày 20/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Xuân K, Lý Thị H3, Hà Văn S, Nguyễn Tấn P1, Nguyễn Hoài T3, Lâm Văn P2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Kiếm và đồng phạm
