Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

—————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 35/2024/HSST

Ngày 21 - 06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Nguyễn Văn Thành; Ông Vũ Văn Phong

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Quỳnh P - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm: 1981; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông: Nguyễn Minh C, sinh năm 1955; con bà: Đinh Thị N, sinh năm 1959; Gia đình có 03 anh em, M là thứ nhất; Vợ: Lương Thị Q, sinh năm 1989; con: có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/03/2024, bị tạm giam từ ngày 01/04/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 26/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên M mang theo 100.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu JULONG, biển số 1829-5343 đi đến khu vực cầu L thuộc xã V, huyện T, tỉnh Nam Định với mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường đê bên dưới gầm cầu L, M quan sát xung quanh thấy có một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở lề đường. Nghĩ người này có bán ma túy, M đến gần hỏi và mua của người đàn ông này 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 100.000đồng. Sau đó, M cầm gói H ở tay trái rồi điều khiển xe máy đi về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi M về đến đường trục xã thuộc xóm C, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định thì bị tổ công tác của Công an huyện T phối hợp với Công an xã V phát hiện bắt quả tang hồi 16 giờ 40 phút.

Vật chứng thu giữ: M tự giao nộp 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và tự khai nhận đây là gói Heroine của M vừa mua, cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng vừa thu giữ của M theo quy định pháp luật, ký hiệu M. Ngoài ra còn tạm giữ của M (một) xe mô tô nhãn hiệu JHULONG, biển số: 18Z9-5343.

Bản kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của phòng Kỹ thuật Công an tỉnh N xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý Heroin. Khối lượng mẫu M: 0,138gam.

* Xử lý vật chứng:

Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định cùng vỏ bao gói mẫu M hoàn lại sau giám định: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện T chờ xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu JIULONG, sơn màu xanh, biển số: 1829-5343, số khung T002589, số máy FMH01283848 là phương tiện M sử dụng để đi mua ma túy. Qua xác minh là tài sản của ông Nguyễn Minh C, sinh năm: 1955 trú tại xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định (là bố đẻ M). Ngày 26/3/2024, ông C cho M mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc M mượn xe để đi mua ma túy. Sau khi xác minh, CQĐT Công an huyện đã trả lại cho ông C.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Cáo trạng số 28/QĐ-KSĐT ngày 08 tháng 05 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoan 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Heroine thu của Nguyễn Văn M.

Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/3/2024 Nguyễn Văn M có hành vi cất giấu chất ma túy có trọng lượng 0,138 gam ma túy Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được chính quyền xác nhận, xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Hình phạt bổ sung: HĐXX thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine đã thu của Nguyễn Văn M.

[6] Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/03/2024.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Nguyễn Văn M có trong bì thư số 639/GĐKTHS của phòng K Công an tỉnh N (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 40/THA ngày 09 tháng 05 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện + tỉnh Nam Định;
  • - Công an huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường;
  • - Lưu HSVA + VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger