Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 18/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Hưng
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Xuân Dự và ông Trần Văn Nghi
  • Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 18/7/2024, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 07/6/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/7/2024 đối với:

- Bị cáo: Phan Đình K, sinh năm 2002, tại huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: K, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn S, con bà: Ngô Thị Thanh B; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt tại phiên tòa”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Chị Ngô Thị D, sinh năm 2003; nơi cư trú: xóm F, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.
  • + Chị Ngô Thị Thanh B, sinh năm 1971; nơi cư trú: K, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.

- Người chứng kiến: ông Vũ Tiền T “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi chiều ngày 18/12/2023, Phan Đình K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vision (chưa đăng ký BKS) đến nhà Phan Văn D1, sinh năm 2003; trú tại: xóm F, xã K, huyện K chơi, sau đó cả hai sang nhà Ngô Thị D, sinh năm 2003 (chị họ D1, ở cùng xóm) để rủ D đi chơi, uống nước cùng. Trong quá trình chờ Diệp, do được Phan Văn D1 nhờ chở hộ 01 thùng cát tông đựng pháo ra khu vực bãi rác xã K, huyện K để giao cho người khác nên K nhận lời. Sau khi nhận thùng cát tông K mang ra xe của mình, lúc này D đến nơi nên K nhờ D ngồi sau ôm thùng cát tông rồi K điều khiển xe đi. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi K đi đến đoạn đường thuộc xóm G, xã K, huyện K thì bị Tổ công tác của Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang.

Thu của K 01 thùng cát tông màu vàng KT (48,5x29x30)cm, bên trong có 06 khối hình hộp chữ nhật có cùng KT (16,5x16,5x10)cm được bọc ngoài bằng giấy có hoa văn nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài (ký hiệu M1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, 01 căn cước công dân mang tên K và xe môtô nhãn hiệu Honda Vision; T1 của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, 01 căn cước công dân mang tên D.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Đình K và Phan Văn D1, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K không thu giữ đồ vật gì liên quan đến pháo.

Tại kết luận giám định số 79/KL-KTHS-ChN ngày 29/12/2023 của phòng KTHS - Công an tỉnh N kết luận: 06 khối hình hộp chữ nhật bọc giấy ký hiệu M1 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (hay còn gọi là pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 9,238kg.

Tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo quy định:

“a) Pháo nổ là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ hoặc gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian;

Pháo nổ gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian được gọi là pháo hoa nổ;

Pháo hoa nổ tầm thấp là quả pháo có đường kính không lớn hơn 90 mm hoặc tầm bắn không vượt quá 120 m. Pháo hoa nổ tầm cao là quả pháo có đường kính trên 90 mm hoặc tầm bắn trên 120 m.”.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKS-KS ngày 06/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện K thay đổi nội dung truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phan Đình K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/7/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng, đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông màu vàng ký hiệu M1 được niêm phong theo quy định bên trong là 06 hộp pháo nổ còn lại sau giám định có tổng khối lượng 7,970kg. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên và không có ý kiến gì khác. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng: tại phiên tòa bị cáo khai chiều ngày 18/12/2023 do nể nang Phan Văn D1 là bạn, nên bị cáo có nhận lời chở hộ cho D1 01 thùng pháo từ nhà của D1 thuộc xóm F, xã K, huyện K ra khu vực bãi rác xã K để giao cho một người nào đó mà K không biết tên, tuổi, địa chỉ. Khi đi K có nhờ Ngô Thị D (là chị họ của D1 và bạn của bị cáo) ngồi sau xe môtô ôm hộ thùng pháo (D không biết trong thùng cát tông là pháo), khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc xóm G, xã K, huyện K thì bị Tổ công tác của Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của bị cáo 01 thùng cát tông bên trong có 06 khối hình hộp chữ nhật được bọc ngoài bằng giấy có hoa văn nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, 01 căn cước công dân mang tên bị cáo và xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision; T1 của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, 01 căn cước công dân mang tên D. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản sự việc, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Bản kết luận giám định số 79/KLGĐ-KTHS-ChN, ngày 29/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh N.

Cáo trạng số 38/CT-VKS-KS ngày 06/6/2024, VKSND huyện K truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện K thay đổi nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có cơ sở và phù hợp với diễn biến, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với lời khai của chị Ngô Thị D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ án nên cần được chấp nhận.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển trái phép 9.238kg pháo nổ, pháo hoa nổ là mặt hàng nhà nước cấm lưu hành và sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng chỉ vì nể nang bạn bè mà cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào trật tự quản lý kinh tế độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh, vận chuyển một số loại hàng cấm, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam, cụ thể là pháo nổ, pháo hoa nổ. Hành vi đó gây nguy hiểm cho xã hội và nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Điều 191. Tội vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

...”

[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết tăng nặng: không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi đối chiếu về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, thì hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, cần phải xử lý trước pháp luật bằng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, do khối lượng pháo bị cáo vận chuyển không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật, đồng thời có tác dụng dăn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng, hành vi phạm tội của bị cáo không mang tính chất vụ lợi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo được quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

[4] Về nguồn gốc pháo hoa nổ: quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo lấy pháo từ nhà Phan Văn D1 để chở đi giúp D1, hiện chưa làm việc được với D1 nên chưa xác định được nguồn gốc số pháo đã thu giữ.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với Phan Văn D1 là người đã nhờ bị cáo mang hộ pháo ra khu vực bãi rác xã K, sau khi sự việc xảy ra D1 đã rời khỏi địa phương, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã nhiều lần triệu tập D1 đến làm việc nhưng không được, đã ra quyết định truy tìm nhưng không xác định được D1 đang đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến hành vi của D1 để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau. Tuy nhiên, cần kiến nghị Cơ quan điều tra phải có biện pháp hữu hiệu đối với D1 để giải quyết dứt điểm vụ án.

Đối với chị Ngô Thị D là người được bị cáo nhờ ngồi sau xe môtô ôm hộ thùng cát tông bên trong có chứa pháo nổ. Chị D không biết bên trong thùng cát tông là pháo nổ nên chị D không đồng phạm với bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

[6] Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 môtô nhãn hiệu Honda Vision qua điều tra xác định là của bà Ngô Thị Thanh B, sinh năm 1971; trú tại: khối E, thị trấn B, huyện K (mẹ đẻ K), bà B mua chiếc xe trên vào ngày 17/12/2023 nên chưa đăng ký biển kiểm soát, bà B không biết K mượn xe để chở pháo. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã trả lại cho bà B là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, 01 căn cước công dân mang tên Ngô Thị D. Đây là tài sản cá nhân và giấy tờ tùy thân của chị D, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã trả lại cho chị D là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Phan Đình K. Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã trả lại cho K là đúng quy định của pháp luật

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 thùng cát tông màu vàng ký hiệu M1 được niêm phong theo quy định bên trong là 06 hộp pháo nổ còn lại sau giám định có tổng khối lượng 7,970kg, là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Phan Đình K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
    • - Xử phạt bị cáo Phan Đình K 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18 tháng 7 năm 2024). Giao bị cáo Phan Đình K cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông màu vàng ký hiệu M1 được niêm phong theo quy định bên trong là 06 hộp pháo nổ còn lại sau giám định có tổng khối lượng 7,970kg.
    • Trả lại cho Phan Đình K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
    • (Chi tiết như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).
  1. Án phí: buộc bị cáo Phan Đình K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện K;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện K;
  • - THADS huyện K;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH về hình sự về tội vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger