|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 16-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Xử - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Thành Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: (không); Sinh ngày 10 tháng 07 năm 1989 tại: Quảng Bình. Nguyên quán: Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Nơi thường trú: tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Nơi ở hiện tại: tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bị cáo có Cha là Võ Văn T, mẹ là Lê Thị L (c). Có ba con, con lơn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Hà Nhật M, sinh năm: 1996, trú tại: Tổ D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12h, ngày 01/10/2023, Võ Thành Đ điều khiển xe ô tô BKS 43C-262.40 từ số nhà I C, phường H để đến số nhà A L, phường H theo hướng đường C đi về hướng đường N. Khi đang đi trên đường D đoạn gần khu vực giao nhau với đường Đ, Đ chỉ quan sát phía trước mà không quan sát các hướng còn lại, đồng thời điều khiển xe ô tô BKS 43C-262.40 đi vào khu vực giao nhau với tốc độ khoảng 50km/h. Cùng lúc này, chị Lê Hà Nhật M điều khiển xe mô tô BKS 43C2- 079.94 theo hướng Võ Chí C – Nguyễn Phước L1. Khi đến khu vực giao nhau giữa đường D và đường Đ, do Đ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên khi phát hiện chị M điều khiển phương tiện phía trước, Đ không xử lý kịp làm mặt ngoài cản trước xe ô tô BKS 43C-262.40 va chạm với mặt ngoài bên phải xe mô tô BKS 43C2-079.94 gây ra tai nạn giao thông. Sau va cham, chị M và xe mô tô BKS 43C2- 079.94 bị ngã ra mặt đường nhựa, Đ dừng đỗ xe BKS 43C-262.40 ngay tại hiện trường. Chị M bị thương nặng, được Đ gọi xe đưa đi cấp cứu, sau đó điều trị tại bệnh viện đến nay đã xuất viện.
Hậu quả: Theo bản kết luận thương tích số: 2217/KL- KTHS, ngày 01/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định tổng tỷ lệ thương tích của Lê Hà Nhật M là 67% (sáu mươi bảy phần trăm).
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Nơi xảy ra tai nạn giao thông là nơi giao nhau giữa đường Đ - D thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Mặt đường thảm nhựa bằng phẳng, rộng 27m00, có dải phân cách cố định ở giữa rộng 12m00, chia dưỡng thành 02 chiều xe chạy, mỗi bên rộng 7m50. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
Chọn mép đường bên trái theo hướng từ Võ Chí C đi Nguyễn Phước L1 làm mốc khám nghiệm hiện trường; Chọn mép đường bên trái đường D theo hướng Tôn Thất Dương K đi Lê Quảng C1 làm mép chuẩn.
Ghi nhận số thứ tự để khám nghiệm như sau:
- + Dấu vết 1: xe ô tô BKS 43C-262.40;
- + Dấu vết 2: xe mô tô BKS 43C2-079.94;
- + Dấu vết 3: vết xước xe 43C2-079.94;
- + Dấu vết 4: vết máu diện 0m50 x 0m20.
Dấu vết 1: Xe ô tô 43C- 262.40 đỗ trên mặt đường, đầu xe quay về hướng T. Trục trước bên phải xe ô tô đo vuông góc vào mép chuẩn là 3m10 và đo thẳng đến trục trước bánh xe máy là 1m00. (xe 43C2-079.94). Trục sau bên phải bánh xe ô tô đo vuông góc vào mép chuẩn là 3m20;
Dấu vết 2: Xe mô tô 43C2- 079.94 ngã nghiêng bên trái, nằm trên mặt đường của đường D, đầu xe quay về hướng đường N, đuôi xe quay về hướng đường V. Trục trước bánh xe máy đo vuông góc vào mép chuẩn là 2m60 và đo thẳng đến tâm vết máu là 9m70. Trục sau bánh xe máy đo vuông góc vào mép chuẩn là 4m00;
Dấu vết 3: Vết xước xe máy do xe mô tô 43C2-079.94 để lại tại hiện trường, vết xước dài 12m20, không liên tục, có chiều hướng tử Lê Quảng C1 về Tôn Thất Dương K. Điểm đầu của vết xước đo vuông góc vào mép chuẩn là 5m10. Điểm cuối của vết xước trùng với gác để chân người ngồi sau bên phải xe mô tô 43C-079.94;
Dấu vết 4: Vết máu để lại tại hiện trường có diện (0m50 x 0m20)cm. T1 vết máu khi do vuông góc vào mép chuẩn là 0m50cm và đo thẳng đến trục trước bánh xe máy BKS 43C2-079.94 là 9m70.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô mang BKS: 43C2-079.94:
Dấu vết 1: ốp nhựa bảo vệ đồng hồ và đèn chiếu sáng phía trước có dấu vết va chạm làm bung bách khỏi vị trí ban đầu, lộ bộ phận bên trong, hư hỏng 40 x 12cm;
Dấu vết 2: Tay phanh bên phải có dấu vết va chạm làm gãy diện 13 x 02cm;
Dấu vết 3: Manh chắn gió bên phải có dấu vết va chạm làm bể vỡ nhựa bảo vệ, bung bách khỏi vị trí ban đầu diện 65 x 40cm, điểm thấp nhất cách đất 30cm. Phần mặt ngoài đèn chiếu sáng, đèn xi nhanh bên phải có dấu vết va chạm làm trầy xước nhựa điện 25 x 10 cm, điểm thấp nhất cách đất 70cm;
Dấu vết 4: Ốp nhựa bảo vệ gác chân người điều khiển bên phải xe có dấu vết va chạm làm bung bách khỏi vị trí ban đầu diện 60 x 15cm;
Dấu vết 5: ốp nhựa bảo vệ hông xe bên phải có dấu vết va chạm làm bung bách, bể vỡ nhựa diện 10 x 10cm, điểm thấp nhất cách đất 50cm. Mặt ngoài gác chân người ngồi sau bên phải có dấu vết va chạm làm mài mòn kim loại dính lại vết xu đen diện 11 x 03cm. Ống xả khí xe có dấu vết va chạm làm nứt vỡ nhựa điện 30 x 10cm, điểm thấp nhất cách đất 20cm, cong lệch từ phải sang trái so với vị trí ban đầu.
Dấu vết 6: Đoạn ½ tay cầm lái bên trái bị cong gập từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, ốp nhựa bảo vệ đèn xi nhan trước bên trái bung bách khỏi vị trí ban đầu. Manh chắn gió bên trái bị bể vỡ nhựa mài mòn kim loại diện 25 x 20cm, điểm thấp nhất cách đất 70cm. Hệ thống phuộc bánh xe trước bị cong lệch từ trái sang phải so với vị trí ban đầu:
Dấu vết 7: Mặt ngoài đoạn từ ốp nhựa bảo vệ gác chân người điều khiển xe đến phía sau bên trái tay nâng xe bị mài mòn nhựa diện 110 x 30cm, khu vực mật ngoài gác chân người ngồi sau bên phải xe và ốp bảo vệ máy xe bị mài mòn kim loại diện 40 x 30cm, điểm thấp nhất cách đất 20cm.
Xe ô tô biển kiểm soát 43C-262.40:
Dấu vết 1: Nắp capo xe có dấu vết va chạm làm mớp kim loại, trầy xước sơn diện 57 x 40cm, điểm thấp nhất cách đất 120cm, điểm gần nhất cách trục bánh trước bên trái là 135cm;
Dấu vết 2: Ốp nhựa dưới nắp capo trước xe có dấu vết va chạm làm nứt vỡ nhựa không liên tục diện 07 x 01 cm, điểm thấp nhất cách đất 85cm và cách trục bánh trước bên trái xe 120cm, cách vị trí nứt vỡ gần nhất là 44 cm (dấu vết 1);
Dấu vết 3: Biển số xe gắn tại cản xe trước có dấu vết va chạm làm bể vỡ nhựa diện 30 x 18cm, cong móp so với vị trí ban đầu;
Dấu vết 4: Cản xe phía trước có dấu vết va chạm làm sạch bụi đất, trầy xước nhựa không liên tục điện 105 x 10cm, điểm thấp nhất cách đất 52cm, cách trục bánh trước 99cm.
Mặt dưới cán trước xe có dấu vết va chạm làm trầy xước kim loại không liên tục diện 70 x 50cm, điểm thấp nhất cách đất 45cm;
Dấu vết 5: Móc sắt kim loại phía trước bên trái xe có dấu vết va chạm làm mái môn kim loại diện 04 x 02cm.
Hệ thống kỹ thuật phương tiện an toàn, hoạt động bình thường.
* Kết quả trưng cầu giám định:
Kết luận giảm định thương tích của chị Lê Hà Nhật M: Theo kết luận giám định số 2217/KL-KTHS, ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lê Hà Nhật M tại thời điểm giảm định là 67% (sáu mươi bảy phần trăm).
Kết quả đo nồng độ cồn đối với lái xe Võ Thành Đ: Theo kết quả biên bản số 00322, ngày 01/10/2023 của Đội CSGT Công an quận C, về việc đo nồng độ cồn đối với lái xe Võ Thành Đ là: 0.000mg/1.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với lái xe Võ Thành Đ: Theo phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, ngày 01/10/2023 của Đội CSGT, xác định Võ Thành Đ: âm tính với chất ma túy.
Kết quả giám định cơ học:
Theo bản kết luận giám định cơ học số: 2405/KL- KTHS ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:
Dấu vết trượt, xước, mất chất màu đen tại mặt ngoài lưới tản nhiệt (mặt ca-lăng. phía trên chữ "OR") của xe ô tô biển số 43C-262.40 có chiều hướng từ trước ra sau, phù hợp với dấu vết trượt, xước, bám dính chất màu đen tại đầu tay cầm lái bên phải của xe mô tô biển số 43C2-079.94 có chiều hướng từ phải qua trái.
Dấu vết nứt, vỡ, trượt, bám dính chất màu trắng tại mặt ngoài bên phải ốp cản trước và biển số phía trước đầu xe ô tô biển số 43C- 262.40 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết nứt, vỡ, trượt, mất chất màu trắng tại mặt yếm phải của xe mô tô biển số 43C2-079.94 có chiều hướng từ phải qua trái, trước ra sau, từ dưới lên trên.
Dấu vết trượt, bám dính chất màu trắng tại mặt ngoài bên trái ốp phía dưới cản trước và móc kéo bên trái phía trước đầu xe ô tô biển số 43C-262.40 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết trượt, mất chất màu trắng và thủng, vỡ tại mặt ngoài ốp hông bên phải xe mô tô biển số 43C2-079.94 có chiều hướng từ phải qua trái, từ trước ra sau, từ dưới lên trên.
Các dấu vết va chạm nêu trên hình thành phù hợp khi 02 xe chuyển động giao nhau và xảy ra va chạm.
Tang vật tạm giữ:
- - 01 (một) xe ô tô BKS: 43C-262.40;
- - 01 (một) xe mô tô BKS: 43C2-079.94;
- - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: 1342046, biển đăng ký: 43C- 262.40, số quản lý: 4305D000003;
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 43018688, biển số đăng ký: 43C-262.40, tên chủ xe: Võ Thành Đ;
- - 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số: [...] mang tên Võ Thành Đ;
- - 01 (một) giấy đăng ký xe số 43018116 tên chủ xe chị Lê Hà Nhật M;
- - 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Hà Nhật M.
Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 29/CT-VKSCL ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Thành Đ mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe ô tô tải biển đăng ký số: 43C-262.40; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số: 1342046, biển đăng ký: 43C- 262.40, số quản lý: 4305D000003, loại phương tiện: ô tô tải: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 43018688, biển số đăng ký: 43C- 262.40, tên chủ xe: Võ Thành Đ, đây là những giấy tờ và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Võ Thành Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
- - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển đăng ký số: 43C2-079.94; 01 (một) giấy đăng ký xe số 43018116; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên chủ xe chị Lê Hà Nhật M. Là giấy tờ và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Lê Hà Nhật M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại cho chị M là có căn cứ.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả các phương tiện cùng giấy tờ liên quan trên cho các chủ sở hữu hợp pháp là có cơ sở.
- - Đối với giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Võ Thành Đ, đề nghị trả cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Võ Thành Đ đã bồi thường cho chị Lê Hà N My số tiền 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng). Chị M đồng ý đã làm đơn bãi nại về phần dân sự đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành Đ đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo nói lời nói sau cùng là xin lỗi bị hại và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 12 giờ ngày 01/10/2023, Võ Thành Đ điều khiển xe ô tô BKS 43C-262.40 lưu thông trên đường D, hướng đi ra đường T. Khi đến khu vực giao nhau với đường Đỗ Quỳ do không chú ý quan sát và không giảm tốc độ nên xe do Đ điều khiển đã va chạm với xe mô tô BKS 43C2-079.94 do chị Lê Hà Nhật M điều khiển đi từ hướng V – Nguyễn Phước L1. Hậu quả: chị Lê Hà Nhật M thương tích tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 67%. Nguyên nhân của việc va chạm là do Võ Thành Đ điều khiển xe ô tô BKS 43C-262.40 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Hành vi của bị cáo Võ Thành Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và an toàn về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ra thương tích 67% cho chị Hà M nên cần phải xử lý nghiêm. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
- [3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
- [3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Thành Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Gia đình của bị cáo có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ nhận định trên, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giáo dục cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Đồng thời, trong thời gian chấp hành án, bị cáo Võ Thành Đ bị khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước là 500.000 đồng mỗi tháng và phải thực hiện các nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
- [4] Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đề nghị áp dụng cho bị cáo Võ Thành Đ từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là tương đối nặng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích nêu trên; đồng thời, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 BLHS và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.
- [5] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết
-
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe ô tô tải biển đăng ký số: 43C-262.40; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số: 1342046, biển đăng ký: 43C- 262.40, số quản lý: 4305D000003, loại phương tiện: ô tô tải: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 43018688, biển số đăng ký: 43C- 262.40, tên chủ xe: Võ Thành Đ, đây là những giấy tờ và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Võ Thành Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
- - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển đăng ký số: 43C2-079.94; 01 (một) giấy đăng ký xe số 43018116; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên chủ xe chị Lê Hà Nhật M. Là giấy tờ và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Lê Hà Nhật M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại cho chị M là có căn cứ.
- - Đối với giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Võ Thành Đ, đây là tài sản của bị cáo nên cần trả cho bị cáo.
- [7] Về án phí: Bị cáo Võ Thành Đ phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 36, Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: bị cáo Võ Thành Đ 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Võ Thành Đ cho UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Võ Thành Đ có trách nhiệm phối hợp với UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Võ Thành Đ bị khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước là 500.000 đồng mỗi tháng và phải thực hiện các nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Võ Thành Đ
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Võ Thành Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có mặt tại phiên tòa tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hưng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
|
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Đức Hiếu Mai Văn D |
Nguyễn Hữu H |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thành Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: (không); Sinh ngày 10 tháng 07 năm 1989 tại: Quảng Bình. Nguyên quán: Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Nơi thường trú: tổ 68, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng. Nơi ở hiện tại: tổ 68, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bị cáo có Cha là Võ Văn T, mẹ là Lê Thị L (c). Có ba con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020.
