TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 10 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Cường và bà Nguyễn Thị Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Hữu T, sinh ngày 15-7-1997 tại T, An Giang; nơi cư trú và chỗ ở: ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị B; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; nhân thân: Ngày 30-7-2015, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã ) T, tỉnh An Giang xử án treo 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, thử thách 01 năm; năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã ) T, tỉnh An Giang ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện tỉnh An Giang, thời gian 15 tháng, đã chấp hành xong; tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 25-10-2023 đến ngày 31-10-2023 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Trần Kim C, sinh ngày 23-9-1993 tại T, An Giang; nơi cư trú và chỗ ở: tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị Kim L; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ tư; tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 18-10-2023 đến ngày 26-10-2023 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Ngọc Hoa T1, sinh năm 1999, nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Kha N2, sinh năm 2000; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 18-10-2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy - Công an thị xã T phối hợp cùng với Công an xã A, thị xã T tiến hành kiểm tra nhà của Lê Hữu T tại ấp P, xã A, thị xã T phát hiện T, Trần Kim C và Nguyễn Ngọc H T1 đang ở trong nhà. Khi thấy lực lượng Công an, T liền cầm 01 hộp giấy màu đen bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) chạy ra phía sau nhà bếp ném bỏ và bỏ chạy tẩu thoát. Cùng lúc này, C lấy 01 cái đèn pin màu xanh bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa 03 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền trắng, mỗi bọc có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi ma túy) từ trong phòng ngủ của T chạy ra phía trước nhà ném bỏ cách khoảng 06m; lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C và tạm giữ tang vật có liên quan.
Vật chứng thu giữ: 02 phong bì được niêm phong, ký hiệu M1, M2; 52 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ có kích thước (8,5 x 5,5) cm; 10 ống hút nhựa màu đỏ có sọc trắng; 12 ống hút bằng thủy tinh; 01 bật lửa không còn nguyên vẹn; 01 bình hút ma túy tự chế; 01 cây kềm bằng kim loại; 01 bật lửa màu đỏ; 12 ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp giấy màu đen; 03 cây kéo bằng kim loại; 01 cây đèn pin màu xanh; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (8,5 x 5,5) cm (tất cả đều đã qua sử dụng).
Kết luận giám định số 194/KL-KTHS (MT -GT) ngày 22-10-2023 của Phòng K Công an tỉnh A kết luận: “Mẫu M1 gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,7570g; Mẫu M2 gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7310g”.
Ngày 26-10-2023 và ngày 31-10-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T khởi tố Trần Kim C, Lê Hữu T để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSTB.HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố Lê Hữu T, Trần Kim C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên toà:
- Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; chất tinh thể rắn màu trắng đựng trong các bọc nilon trong suốt có rãnh khóa được thu giữ tại khu vực nhà của bị cáo T là ma túy, bị cáo T mua của người thanh niên tên T2 (khoảng 30 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở khóm X, phường T, thị xã T với giá 550.000 đồng cất giấu để sử dụng. Đồng thời bị cáo T khai, bị cáo cho C, T1 ở nhờ trong nhà; việc C, T1 lén sử dụng ma túy bị cáo không biết, không rủ và không đưa ma túy, dụng cụ cho C, T1 cùng sử dụng; sáng ngày 18-10-2023, bị cáo có đưa 03 bọc nilon ma túy nhờ C cất giấu thì C đồng ý và cất giấu vào đèn pin màu xanh. Bị cáo C khai, bị cáo biết rõ 03 bọc nilon T đưa bên trong có chứa chất ma túy nhưng vẫn đồng ý cất giấu dùm T; việc bị cáo và T1 sử dụng ma túy thì T không biết, không rủ và không đưa ma túy, dụng cụ cho bị cáo và T1 sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Ngọc Hoa T1, người làm chứng Nguyễn Kha N2 vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu (từ bút lục 150-155; 158-161).
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trên cơ sở phân hóa vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hữu T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Kim C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; về hình phạt bổ sung, các bị cáo nghiện ma túy, làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang các bị cáo còn lại sau giám định và các tang vật thu giữ tại nhà bị cáo T là vật cấm lưu hành và vật chứa ma túy, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Ngọc Hoa T1, người làm chứng Nguyễn Kha N2 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 18-10-2023, tại nhà của bị cáo Lê Hữu T thuộc khu vực ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo Lê Hữu T, Trần Kim C đã có hành vi cất giấu 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa 03 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền trắng, mỗi bọc có chứa tinh thể rắn màu trắng; riêng T còn có hành vi cất giấu 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ chứa tinh thể rắn màu trắng; 02 bọc nilon thu giữ được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,7570gam và 0,7310gam với mục đích cất giấu để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Lê Hữu T, Trần Kim C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (tội phạm nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Lê Hữu T, Trần Kim C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích cất giấu để sử dụng. Trước khi phạm tội, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; về nhân thân, bị cáo T đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; riêng, bị cáo T được hưởng tình tiết đầu thú và gia đình có ông, bà nội (Lê Văn Ú, Võ Thị T3) là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Các bị cáo làm thuê, thu nhập không ổn định, điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang các bị cáo là vật cấm lưu hành; 52 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, 10 ống hút nhựa màu đỏ có sọc trắng, 12 ống hút bằng thủy tinh, 01 bật lửa không còn nguyên vẹn, 01 bình hút ma túy tự chế, 01 cây kềm bằng kim loại, 01 bật lửa màu đỏ, 12 ống hút nhựa màu trắng, 01 hộp giấy màu đen, 03 cây kéo bằng kim loại, 01 cây đèn pin màu xanh, 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (8,5 x 5,5) cm là vật chứa ma túy, có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy và các vật này theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Các vấn đề khác:
Việc Trần Kim C và Nguyễn Ngọc H T1 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo T không biết, không rủ rê, không cung cấp ma túy và dụng cụ để cho C, T1 sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
Nguyễn Ngọc H T1 không biết việc bị cáo T và C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không truy cứu trách nhiệm hình sự đồng phạm với T1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Đối với người thanh niên tên T2 là người bán ma túy cho bị cáo T do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Lê Hữu T 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 25-10-2023 (ngày hai mươi lăm, tháng mười, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Trần Kim C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 18-10-2023 (ngày mười tám, tháng mười, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy: 52 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ (chưa qua sử dụng); 10 ống hút nhựa màu đỏ có sọc trắng; 12 ống hút bằng thủy tinh; 01 bật lửa không còn nguyên vẹn; 01 bình hút ma túy tự chế; 01 cây kềm bằng kim loại; 01 bật lửa màu đỏ; 01 phong bì được niêm phong (bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 1,6930g); 01 phong bì được niêm phong (bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,6843g); 12 ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp giấy màu đen; 03 cây kéo bằng kim loại; 01 cây đèn pin màu xanh; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ;
(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Lê Hữu T, Trần Kim C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Lê Hữu T, Trần Kim C có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Ngọc Hoa T1 vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Lê Hữu Thạnh, Trần Kim Chi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
