|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 07/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng sơ thẩm xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà: Vũ Thị Thanh Hương.
Bà: Nguyễn Thị Vân Anh.
Thư ký phiên toà: ông Lê Thanh Bình. Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 7 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/HSST ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Thái Đình D; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/9/1982 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; con ông: Thái Đình N, sinh năm: 1953 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1954; vợ: Thái Thị H - Sinh năm: 1989; con: có 04 con, con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Cảnh D1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 08/8/1964 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn: 10/10; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên Đ2 (đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 117/QĐ/DU ngày 24/2/2024 của Ủy ban kiểm tra, Huyện ủy T8); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Cảnh N1 (Đã chết) và bà: Thái Thị V (Đã chết); vợ: Thái Thị H1, sinh năm: 1970; có 02 con, con lớn 32 tuổi, con nhỏ 30 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Quang Q; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 22/9/1977 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Quang L (Đã chết) và bà: Đậu Thị B, sinh năm: 1951; vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1977; có 02 con, con lớn 23 tuổi, con nhỏ 16 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Sỹ Đ; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/7/1971 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Sỹ T1 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị S (Đã chết); vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1972; có 03 con, con lớn nhất 33 tuổi, con nhỏ nhất 24 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Công Q1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 04/5/1986 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Công M (Đã chết) và bà: Phan Thị H4, sinh năm: 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Thái Khắc N2; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/02/1979 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Thái Khắc H5, sinh năm: 1937 và bà: Phan Thị U (Đã chết); vợ: Vũ Thị H6, sinh năm: 1982; có 03 con, con lớn nhất 22 tuổi, con nhỏ nhất 13 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Công T2; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02/6/1985 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Công T3 sinh năm: 1957 và bà: Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1958; vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1991; có 02 con, con lớn 04 tuổi, con nhỏ 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Công H7; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/10/1984 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Công P, sinh năm: 1956 và bà: Phan Thị N3, sinh năm: 1964; vợ: Hoàng Thị T5, sinh năm: 1988; có 02 con, con lớn 12 tuổi, con nhỏ 07 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến 22/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến 24/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Thái Đăng S1, sinh năm: 1976. Trú tại: xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/02/2024 tại nhà anh Thái Đăng S1 ở xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An tổ chức đám cưới. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đã uống rượu thì Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Quang Q và Thái Đình D cùng rủ nhau vào căn nhà ngang (cạnh nhà bếp) để đánh bạc bằng hình thức bài chương “Ba cây”, đặt cược mỗi ván từ 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) đến 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Khi vào đây các đối tượng đã thấy có 01 (một) chiếc chiếu và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài từ “A” tới quân “9” có mặt lưng màu trắng- xanh để ở chiếu nên cả ba ngồi xuống chiếu bắt đầu tham gia đánh bạc. Khoảng 10 phút sau thì lần lượt Nguyễn Công T2, Nguyễn Sỹ Đ, Thái Khắc N2, Nguyễn Công Q1 và Nguyễn Công H7 đi vào căn nhà ngang thấy có đánh bạc nên cũng ngồi xuống cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi các bị cáo đang tham gia sát phạt nhau thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở nên Thái Khắc N2 đã bỏ chạy khỏi hiện trường đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 15/02/2024 thì bị lực lượng Công an truy đuổi bắt giữ. Qua kiểm tra ban đầu lực lượng Công an thu giữ gồm: Số tiền: 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) ở túi quần sau bên phải của Thái Đình D; T6 số tiền: 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) ở túi áo trước bên trái của Nguyễn Cảnh D1; T6 số tiền: 570.000 đồng (B1 trăm năm mươi nghìn đồng) trước chỗ ngồi của Nguyễn Công T2; T6 số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) trước vị trí ngồi, số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) trong ngăn kéo ví ở túi quần phía sau của Nguyễn Sỹ Đ; T6 số tiền: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trước vị trí ngồi, số tiền: 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) trong ví ở túi quần sau bên phải và số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) ở túi quần trước bên trái của Nguyễn Công Q1; Thu giữ số tiền: 760.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) tại túi áo khoác bên trái và số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) để trong ví ở túi áo khoác trước ngực của Nguyễn Công H7 cùng 01 (một) bộ bài tú lơ khơ màu xanh- trắng, 36 quân bài từ quân “A” đến quân “9”, 01 (một) chiếc chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, vàng. Sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng có liên quan, đồng thời đưa các đối tượng về trụ sở Công an huyện T để điều tra làm rõ.
Qua điều tra đã chứng minh được, trước khi vào tham gia đánh bạc thì Thái Đình D mang theo số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; Nguyễn Quang Q mang theo số tiền: 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; Nguyễn Cảnh D1 mang theo số tiền: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và sử dụng tất cả để đánh bạc; Nguyễn Công T2 mang theo số tiền: 800.000 đồng (T7 trăm nghìn đồng) và sử dụng tất cả để đánh bạc; Nguyễn Sỹ Đ mang theo số tiền: 6.900.000 đồng (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng) và lấy ra số tiền: 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) để tham gia đánh bạc, còn số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) Nguyễn Sỹ Đ để trong ví cho con đi học và không sử dụng để đánh bạc; Thái Khắc N2 mang theo số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) và dùng tất cả để đánh bạc; Nguyễn Công Q1 mang theo số tiền: 2.230.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) và sử dụng tất cả để tham gia đánh bạc; Nguyễn Công H7 mang theo số tiền: 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) để trong ví và lấy ra số tiền: 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để tham gia đánh bạc; trong quá trình tham gia đánh bạc thì Thái Khắc N2 hết tiền nên đã vay số tiền: 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) của Nguyễn Sỹ Đ để tiếp tục đánh bạc đến khi bị bắt quả tang thì Thái Khắc N2 còn lại số tiền: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) nên cầm theo khi bỏ chạy và vứt bỏ trên đường bỏ trốn khỏi hiện trường. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 9.230.000 đồng (Chín triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Quang Q, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2, Nguyễn Công H7 hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.
Cáo trạng số: 33/CT-VKSTK ngày 2 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Quang Q, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2, Nguyễn Công H7, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Thái Đình D từ 8 đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 16 đến 22 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Quang Q từ 7 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 14 đến 20 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt: Nguyễn Sỹ Đ từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Công Q1 từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Cảnh D1 từ 24 đến 27 cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 15/2/2024 đến 24/2/2024) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành từ 23 tháng 3 ngày đến 26 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
- Khấu trừ thu nhập mỗi tháng từ 15% đến 20% của thu nhập 7.000.000 đồng/1 tháng bằng số tiền từ 1.050.000 đồng đến 1.400.000 đồng/1 tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Thái Khắc N2 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 37 ngày tạm giữ tạm giam (từ ngày 15/2/2024 đến 22/3/2024) bằng 3 tháng 11 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành từ 8 tháng 19 ngày đến 11 tháng 19 ngày cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T2 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 15/2/2024 đến 24/2/2024) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành từ 11 tháng 3 ngày đến 14 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
- Khấu trừ thu nhập của Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2 mỗi tháng từ 5% đến 10% của thu nhập 4.000.000 đồng/1 tháng bằng số tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng/1 tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H7 từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền: 8.630.000 đồng (Tám triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Sỹ Đ số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và Nguyễn Công H7 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) không liên quan đến đánh bạc.
- Tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu trắng- xanh, 01 (một) chiếc chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, vàng.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo có lời nói sau cùng: các bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Quang Q, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Công T2, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công H7, Thái Khắc N2 đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm pháp quả tang và lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 14/2/2024 tại nhà anh Thái Đăng S1, ở xóm Đ, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang Thái Đình D, Nguyễn Quang Q, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Công T2, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công H7, Thái Khắc N2 đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh chương “03 cây”, đặt cược mỗi ván từ 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) đến 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), thu giữ tại chiếu bạc 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 36 quân mặt sau có hoa văn màu trắng- xanh; 01 (một) chiếc chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, vàng; đồng thời thu giữ tổng số tiền: 15.630.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng). Qua điều tra chứng minh số tiền mà các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 9.230.000 đồng (Chín triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó, Thái Đình D sử dụng số tiền: 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Cảnh D1 sử dụng số tiền: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để đánh bạc; Nguyễn Quang Q sử dụng số tiền: 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Sỹ Đ sử dụng số tiền: 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Công Q1 sử dụng số tiền: 2.230.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc; Thái Khắc N2 sử dụng số tiền: 800.000 đồng (T7 trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Công T2 sử dụng số tiền: 800.000 đồng (T7 trăm nghìn đồng) để đánh bạc và Nguyễn Công H7 sử dụng số tiền: 400.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Còn số tiền: 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Sỹ Đ và số tiền: 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Công H7 nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Quang Q, Nguyễn Công T2, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công H7, Thái Khắc N2 đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Quang Q, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Thái Khắc N2, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công H7 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Cảnh D1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo là Liệt sỹ vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Công Q1, Thái Khắc N2 có bố là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương; Mẹ của bị cáo Thái Đình D là người có công với cách mạng, hiện đang hưởng chế độ bệnh binh vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất, vai trò và nhân thân của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng:
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống chung của nhiều gia đình và các hoạt động bình thường của xã hội, làm cho quần chúng nhân dân bức xúc, lo lắng trước tệ nạn này và là một trong những nguyên nhân gây nên một số loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc bằng hình thức đánh bài thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật và bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì động cơ, mục đích hám lợi và có thái độ coi thường pháp luật, nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
Trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, tổ chức, cấu kết chặt chẽ nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.
Phân hóa vai trò trong vụ án: Bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Cảnh Q2 tham gia đánh bạc ngay từ đầu, bị cáo D sử dụng số tiền đánh bạc nhiều thứ 3, bị cáo Q2 sử dụng số tiền nhiều thứ 6 trong số các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1 tham gia đánh bạc sau nhưng bị cáo Đ sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, bị cáo Quý Đ1 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều thứ 2 vì vậy mức án của các bị cáo tương đương nhau. Xét các bị cáo phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo D và bị cáo Q1 có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ nghiêm.
Bị cáo Nguyễn Cảnh D1, tham gia đánh bạc ngay từ đầu, bị cáo D1 sử dụng số tiền nhiều thứ 4 trong các bị cáo nhưng xét bị cáo D1 có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm.
Khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Cảnh D1 mỗi tháng từ 15% của thu nhập 7.000.000 đồng/1 tháng bằng số tiền 1.050.000 đồng/1 tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Các bị cáo Nguyễn Công T2, Thái Khắc N2 vào tham gia đánh bạc sau với vai trò người thực hành tích cực, các bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc nhiều thứ 5, xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, bị cáo Thái Khắc N2 có thêm 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng điều 36 cho các bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm.
Khấu trừ thu nhập của Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2 mỗi tháng 5% của thu nhập 4.000.000 đồng/1 tháng bằng số tiền 200.000 đồng/1 tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Nguyễn Công H7 vào tham gia đánh bạc sau với số tiền ít nhất, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng nên áp dụng điều 35 áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ nghiêm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy qua kết quả xác minh tài sản, các bị cáo không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng: Số tiền: 8.630.000 đồng (Tám triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc vì vậy áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, sung vào ngân sách nhà nước.
01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu trắng- xanh và 01 (một) chiếc chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, vàng. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên trịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Sỹ Đ số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và Nguyễn Công H7 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) không liên quan đến đánh bạc.
[6] Đối với số tiền 600.000 đồng liên quan đến việc đánh bạc, mà bị cáo Thái Khắc N2 cầm bỏ chạy trốn khi bị lực lượng Công an phát hiện, bị cáo đã đánh rơi nhưng không xác định được vị trí, nên cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có căn cứ để xử lí vật chứng này.
[7] Quá trình điều tra xác định Thái Đăng S1 là chủ nhà đã để xảy ra việc đánh bạc tại nơi mình có trách nhiệm quản lý, sử dụng nhưng khi các bị cáo đánh bạc Thái Đăng S1 không biết sự việc nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Quang Q2, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2, Nguyễn Công H7 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: T (T7) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 16 (Mười sáu), thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 7/5/2024).
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Quang Q2 7(B1) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 14 (Mười bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 7/5/2024).
- Xử phạt: Nguyễn Sỹ Đ 6 (S2) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 (Mười hai), thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 7/5/2024).
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Công Q1 6 (S2) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 (Mười hai), thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 7/5/2024).
- Giao bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Quang Q2 về cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- - Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- - Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- - Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Cảnh Diêu 2 (Hai bốn) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 15/2/2024 đến 24/2/2024) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 23 (Hai ba) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập mỗi tháng 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ ( 24 tháng x 1.050.000đ/1 tháng = 25.200.000 đồng).
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Thái Khắc N2 12 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 37 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 15/2/2024 đến 22/3/2024) bằng 3 tháng 11 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 8 tháng 19 ngày ngày cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T2 12 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 15/2/2024 đến 24/2/2024) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
- Khấu trừ thu nhập của mỗi bị cáo Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2 mỗi tháng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ ( 12 tháng x 200.000đ/1 tháng = 2.400.000 đồng).
- Giao các bị cáo Nguyễn Cảnh D1, Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2 cho UBND xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H7 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Sung công quỹ nhà nước tổng số tiền: 8.630.000 đồng (Tám triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng),
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Sỹ Đ số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và Nguyễn Công H7 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Vật chứng có tại Kho bạc nhà nước T9 theo biên bản giao nhận tài sản ngày 17/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Kho bạc Nhà nước T9.
Tiêu Hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu trắng- xanh, 01 (một) chiếc chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, vàng.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 6 tháng 5 năm 2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án huyện Tân Kỳ.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Thái Đình D, Nguyễn Cảnh D1, Nguyễn Quang Q2, Nguyễn Sỹ Đ, Nguyễn Công Q1, Thái Khắc N2, Nguyễn Công T2, Nguyễn Công H7 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa nghĩa vụ liên quan, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Thị Vân Anh Vũ Thị Thanh Hương |
Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 07/05/2024
