|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 8-2024 "V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lam.
- Ông Nguyễn Hồng Diện.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 09/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1992. Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/12/2022. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang “vắng mặt”.
Bị đơn: Anh Diệp Minh T, sinh năm 1991. Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27/3/2023. Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị và anh Diệp Minh T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang vào tháng 12/2016 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại thôn M, xã T, huyện B. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2017 vợ chồng anh chị xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung dẫn đến anh chị thường xẩy ra xô sát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được mà ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm. Nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Diệp Minh T.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có hai con chung là cháu Diệp Nam P, sinh ngày 19/8/2017 và cháu Diệp Trâm A, sinh ngày 12/4/2020. Trong thời gian anh chị sống ly thân, chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Khi ly hôn, chị V có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Diệp Minh T không gửi bản tự khai, không cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của chị V. Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Diệp Minh T nhiều lần để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng anh Diệp Minh T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại các biên bản xác minh ngày 10/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với đại diện UBND xã T và đại diện thôn M, xã T nơi chị V và anh T sinh sống phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau:
Chị Nguyễn Thị V và anh Diệp Minh T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang vào tháng 12/2016 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại thôn M, xã T, huyện B. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2017 vợ chồng anh chị xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung dẫn đến anh chị thường xẩy ra xô sát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được mà ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm. Hiện nay chị Nguyễn Thị V có yêu cầu ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, quá trình chung sống anh chị có hai con chung, cháu Diệp Nam P, sinh ngày 19/8/2017 và cháu Diệp Trâm A, sinh ngày 12/4/2020. Trong thời gian anh chị sống ly thân, chị V là người trực tiếp nuôi hai cháu, chị đảm bảo các nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con tốt. Chị V là giáo viên có thu nhập ổn định, còn anh T là lao động tự do. Về chia tài sản chung và công nợ do anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chúng tôi không cung cấp thông tin.
Tại phiên toà hôm nay, chị Nguyễn Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Diệp Minh T. Việc nuôi con chung: Giao cháu Diệp Nam P, sinh ngày 19/8/2017 và cháu Diệp Trâm A, sinh ngày 12/4/2020 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bị đơn là anh Diệp Minh T, anh Diệp Minh T có nơi cư trú tại thôn M, xã T, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Diệp Minh T xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên anh chị thường xẩy ra xô sát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn không được cải thiện. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, việc ai người đấy làm, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh Diệp Minh T không hợp tác để tham gia hòa giải. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Diệp Minh T.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình chung sống, anh chị có hai con chung là cháu Diệp Nam P, sinh ngày 19/8/2017 và cháu Diệp Trâm A, sinh ngày 12/4/2020. Khi ly hôn, chị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy nguyện vọng nuôi con của chị V xuất phát từ tình cảm, vì lợi ích của con, trong thời gian anh chị sống ly thân chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu, chị vẫn đảm bảo tốt các điều kiện ăn, ở, học tập của các cháu, bên cạnh đó cháu Diệp Nam P có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu được sống cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao hai cháu cho chị V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về chia tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Diệp Minh T.
2. Về việc nuôi con chung: Xử giao hai cháu Diệp Nam P, sinh ngày 19/8/2017 và cháu Diệp Trâm A, sinh ngày 12/4/2020 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu P và cháu A đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản chở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con chung, sau này anh, chị có quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con và người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai thu số: 0002100, ngày 12/6/2024.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hồng |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Nguyễn Thị V và anh Diệp Minh T
