Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17 – 5 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Âu Cần Đông

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh T (Ú), sinh năm: 1979 (có mặt).
  2. Địa chỉ: ấp A, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  3. Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1976 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: ấp A, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2000 bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H tổ chức lễ cưới, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Cần Thơ vào ngày 27/9/2000, hôn nhân do ông bà cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Lúc đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà T và ông H đã ly thân khoảng 07 tháng nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với ông Lê Văn H.

Về con chung: Bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H có 02 con chung tên Lê Thị Thanh N (Giới tính: Nữ) sinh ngày 03/02/2001 và Lê Tấn V (Giới tính: Nam) sinh ngày 08/9/2006. Cháu N đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu giải quyết; còn cháu V hiện đang sống chung với bà T, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn ông Lê Văn H.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Văn H chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T, cho bà Phạm Thị Thanh T được ly hôn với ông Lê Văn H.

Về con chung: Giao cháu Lê Tấn V (Giới tính: Nam) sinh ngày 08/9/2006 cho bà Phạm Thị Thanh T nuôi dưỡng. Đối với cháu Lê Thị Thanh N hiện đã trưởng thành, ông H, bà T không yêu cầu nên không xem xét.

Bà Phạm Thị Thanh T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông Lê Văn H không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Lê Văn H đều vắng mặt nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H có hay không. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Văn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Lê Văn H.

[1.2] Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bà Phạm Thị Thanh T tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H đã đăng ký kết hôn tại kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Cần Thơ vào ngày 27/9/2000, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng của bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H rất hạnh phúc và đã có con chung, nhưng đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà T và ông H đã ly thân khoảng 07 tháng nay. Tại phiên tòa, bà Phạm Thị Thanh T cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn H Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của bà T và ông H là trầm trọng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bà Phạm Thị Thanh Tuyền T1 yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H có có 02 con chung tên Lê Thị Thanh N (Giới tính: Nữ) sinh ngày 03/02/2001 và Lê Tấn V (Giới tính: Nam) sinh ngày 08/9/2006. Cháu N đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Lê Tấn V hiện đang sống chung với bà T, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V. Hội đồng xét xử xét thấy, tại bản tự khái của cháu Lê Tấn V có yêu cầu được sống chung với mẹ (bà Phạm Thị Thanh T). Mặt khác, ông Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xem như ông Lê Văn H từ bỏ quyền yêu cầu xin được nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Lê Tấn V nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thống nhất giao cháu Lê Tấn V cho bà Phạm Thị Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Ông Lê Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Lê Văn H đều vắng mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của ông Lê Văn H nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H có hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T được ly hôn với bị đơn ông Lê Văn H.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Tấn V (Giới tính: Nam) sinh ngày 08/9/2006 cho bà Phạm Thị Thanh T nuôi dưỡng. Đối với cháu Lê Thị Thanh N hiện đã trưởng thành, ông H, bà T không yêu cầu nên không xem xét.
  3. Bà Phạm Thị Thanh T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

    Ông Lê Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho bà Phạm Thị Thanh T và ông Lê Văn H thành vụ án khác khi có yêu cầu.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà T được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0007675 lập ngày 16 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn ông Lê Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKS ND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - UBND xã Long Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Lil

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger