TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày 07/5/2024 “V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Định.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương Linh và ông Nguyễn Văn Kền.
- - Thư ký phiên toà: Bà Phùng Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXX-ST ngày 02/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QÐST-DS ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995
- Bị đơn: Anh Đỗ Tiên P, sinh năm 1992
Nơi thường trú: tổ A, khu E, phường Đ, TP., tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: tổ A, khu I, phường B, TP., tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).
Nơi thường trú: tổ A, khu E, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: tổ A, khu I, phường B, TP., tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02/01/2024 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Tiên P đăng ký kết hôn vào ngày 27/10/2021 tại UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 4 năm, khi đó chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn bắt nguồn từ việc trong cuộc sống anh P không có trách nhiệm với gia đình, nhất là về tình cảm, anh thường xuyên đi đi về về không có kỷ luật (thích đi thì đi, thích về là về). Ngoài ra còn có biểu hiện quan hệ với người phụ nữ bên ngoài không trong sáng, chị đã từng bắt gặp, chị đã nhiều lần khuyên can chồng để anh khắc phục, nhưng anh P vẫn chứng nào tật nấy, không sửa chữa.
- Đầu năm 2023, chị H cũng đã viết đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tuy nhiên do thương con nên chị đã rút đơn về đề vợ chồng đoàn tụ, nhưng đến nay anh P vẫn không chịu thay đổi bản thân, vì vậy nên vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, căng thẳng, không nói chuyện trao đổi được với nhau, không có trách nhiệm với nhau, không còn tình cảm trong hôn nhân nên cả hai quyết định sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy thời gian vợ chồng sống ly thân kéo dài không còn cơ hội hàn gắn. Hai bên gia đình nội, ngoại cũng không hòa giải được cho vợ chồng chị. Xét thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, hôn nhân hạnh phúc không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.
- - Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là: Đỗ Gia H1, sinh ngày 28/01/2022. Chị đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- - Về tài sản chung và công nợ chung: vợ chồng chị không có tài sản chung, không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần cho anh Đỗ Tiên P, nhưng anh P không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm giải quyết vụ án.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024 Tòa án đã tiến hành xác minh tại tổ dân khu phố nơi anh P và chị H chung sống thì ông Vũ Đình K – Tổ trưởng tổ A, khu I, phường B cho biết: Anh Đỗ Tiên P, sinh năm 1992 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 có đăng ký tạm trú tại số nhà I, tổ A, khu I, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh từ khoảng năm 2020 đến năm 2021 thì đăng ký kết hôn và ở từ đó đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Gia H1, sinh năm 2021, chị H kinh doanh Shops quần áo, còn anh P làm gì ông cũng không biết, nhưng rất ít khi có mặt ở nhà. Về mâu thuẫn của anh chị, tổ dân khu phố không được biết, nhưng ông chỉ biết khi chị H sinh con được mấy tháng có sang nhà ông để hỏi về thủ tục xin ly hôn và nhờ tổ dân giúp đỡ. Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã nhiều lần gửi thông báo thụ lý, giấy triệu tập lần 1 và lần 2 cho anh P, nhưng anh P đều từ chối không nhận, có mặt ông chứng kiến. Nay chị H có đơn khởi kiện xin ly hôn và xin được nuôi con, tổ dân khu phố không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng; Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: vụ án “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” giữ các đương sự nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa ngày 17/4/2024 anh P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay anh P cũng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án khi vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: tại đơn xin ly hôn và tại các bản tự khai tại Tòa án, chị H khẳng định tình cảm giữa chị và anh P thực sự không thể hàn gắn được, vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau và không còn khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
- Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn đã xảy ra. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống anh P không có trách nhiệm với gia đình, nhất là về tình cảm, có biểu hiện quan hệ với người phụ nữ bên ngoài không trong sáng. Quá trình mâu thuẫn gia đình đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, anh chị tuy vẫn sống trong cùng nhà nhưng đã sống ly thân nhau về tình cảm từ tháng 4 năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến đời sống tình cảm của nhau nữa. Nay thấy rằng tình trạng vợ chồng chị H và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
- [3] Về con chung: trong thời gian chung sống chị H và anh P có 01 con chung là: Đỗ Gia H1, sinh ngày 28/01/2022. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Quá trình giải quyết vụ án, anh P không đến Tòa án làm việc, không viết bản tự khai, không cung cấp cho Tòa án căn cứ chứng minh thu nhập của mình. Tại phiên tòa hôm nay anh P vắng mặt nên không thể hiện quan điểm về việc nuôi con chung.
- Hội đồng xét xử xét thấy, chị H có công ăn việc làm, đang mở của hàng có thu nhập ổn định với mức thu nhập từ 25 đến 30.000.000đồng/tháng, hơn nữa con Đỗ Gia H1 chưa đủ 36 tháng tuổi, nên giao con cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý nhất cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Do đó, nguyện vọng nuôi con của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- [4] Về tài sản chung và các khoản vay nợ chung: chị H khai không có tài sản chung, không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [5] Về án phí: chị H phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đỗ Tiên P.
- Về con chung: giao con chung Đỗ Gia H1, sinh ngày 28/01/2022 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H, nhưng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000418, ngày 12/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Báo cho nguyên đơn và bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Định |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1995 Nơi thường trú: tổ 1, khu 5, phường Đại Yên, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: tổ 11, khu 9B, phường Bãi Cháy, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. 2. Bị đơn: Anh Đỗ Tiên Phong, sinh năm 1992 Nơi thường trú: tổ 1, khu 5, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: tổ 11, khu 9B, phường Bãi Cháy, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
