Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/DS-ST

Ngày: 22-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Tô Phú Mỹ
  2. Bà Cao Thị Diệu Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: Lầu H, số B, N, Phường H, Quận C, Thành phố H;

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Nhật Minh K, sinh năm 1987 (Vắng mặt);

Chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Đại diện theo ủy quyền).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1978 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số A H, phường C, thành phố S, Đáp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Nguyễn Nhật Minh K đại diện trình bày:

Ngày 02/8/2008 ông Nguyễn Hữu T có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này gọi chung là hợp đồng), hạn mức tín dụng là 50.000.000đ, lãi suất 1,97%/tháng (Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau), mục đích vay tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 62.699.900đ. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán nhiều lần cho ngân hàng với tổng cộng số tiền đã thanh toán 63.699.900đ (lần thanh toán gần nhất là số tiền 1.000.000đ ngày 10/11/2011), sau đó ngừng không thanh toán nữa. Hiện số tiền vốn gốc còn dư nợ là 39.065.928đ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 11/5/2010 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ 39.065.928đ làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Nay ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Hữu T thanh toán cho ngân hàng số tiền vốn gốc 39.065.928đ và lãi 188.084.724đ (tính đến ngày 06/5/2024), tổng cộng vốn, lãi 227.150.652đ (Hai trăm hai mươi bảy triệu một trăm năm mươi ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo lãi suất hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

Ngoài ra, ngân hàng không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu T vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn có đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng, nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn ông Nguyễn Hữu T có địa chỉ đăng ký thường trú tại thành phố S, do đó Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Nhật Minh K có đơn xin xét xử vắng mặt; còn bị đơn ông Nguyễn Hữu T vắng mặt không lý do, cũng không có người đại diện tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc yêu cầu ông Nguyễn Hữu T trả 39.065.928đ tiền vốn gốc và lãi 188.084.724đ (tính đến ngày 06/5/2024), tổng cộng 227.150.652đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo lãi suất hợp đồng cho đến khi thanh toán xong, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Ngày 02/8/2008 nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S là đơn vị phát hành thẻ có ký hợp đồng thẻ tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Hữu T1, loại thẻ tín dụng quốc tế ANZ Visa, số thẻ 435244 – 1187, hạn mức 50.000.000đ, lãi suất 1,97%/tháng, không có thế chấp tài sản bảo đảm, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Theo thoả thuận thời hạn trả nợ vốn là ngày đến hạn trả nợ theo thông báo của đơn vị phát hành thẻ. Về cách tính lãi: tại điểm b mục 22 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định: đối với giao dịch rút tiền mặt lãi suất được tính từ ngày giao dịch rút tiền mặt được ghi nợ vào tài khoản cho đến ngày chủ thẻ thanh toán lại toàn bộ số tiền đã rút. Khi thanh toán sẽ áp dụng theo thứ tự thỏa thuận hợp đồng tại mục 20: các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Theo bảng tóm tắt sao kê ngày 06/5/2024 thì quá trình sử dụng thẻ ông T đã thực hiện các giao dịch rút tiền và thanh toán gồm:

Giao dịch rút tiền : Ngày 10/9/2008 rút số tiền 48.354.900đ; ngày 10/12/2008 rút số tiền 14.345.000đ. Tổng cộng rút số tiền: 62.699.900đ.

Giao dịch thanh toán: Ngày 10/12/2008 trả 17.665.262đ; Ngày 10/5/2009 trả 12.500.000đ; Ngày 10/7/2009 trả 13.000.000đ; Ngày 10/5/2010 trả 2.166.751đ; Ngày 10/8/2011 trả 1.000.000đ; Ngày 10/10/2011 trả 16.367.887đ; Ngày 10/10/2011 trả 1.000.000đ. Tổng cộng trả: 63.699.900đ.

[2.2] Qua xem xét chứng cứ thấy rằng: Hợp đồng tín dụng giữa các bên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, hợp đồng tín dụng phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm ký kết. Quá trình thực hiện hợp đồng do ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cụ thể sau khi thực hiện 2 giao dịch rút tiền với tổng cộng số tiền rút 62.699.900đ thì ông T có thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại cho ngân hàng nhưng không đầy đủ nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Qua sao kê cho thấy ông T đã thanh toán số tiền tổng cộng 63.699.900đ (nhiều hơn số tiền rút là 1.000.000đ), tuy nhiên do thoả thuận hợp đồng số tiền mỗi lần rút được xác định là vốn và phát sinh lãi sau khi rút, cùng với các khoản phí phát sinh, cho nên số tiền ông T thanh toán chia làm nhiều lần, vào thời gian khác nhau, mỗi lần không đủ số tiền đã rút nên số tiền lãi vẫn phát sinh thêm theo thỏa thuận. Như vậy, do ông T thanh toán không đúng thời hạn, mỗi lần thanh toán trong đó có cả tiền vốn và lãi. Do đó, mặc dù số tiền ông T thanh toán trả cho Ngân hàng có nhiều hơn số tiền rút ra là 1.000.000đ, nhưng do thanh toán trễ hạn và không đủ vốn, lãi nên số tiền vốn gốc còn nợ là 39.065.928đ. Từ ngày 11/5/2010 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Điều 3 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ 39.065.928đ làm nợ gốc. Như vậy, việc ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T trả vốn 39.065.928đ là có căn cứ, nên chấp nhận.

[2.3] Về nợ lãi: Theo thỏa thuận hợp đồng lãi suất vay là 1,97%/tháng; lãi quá hạn bằng 150% của lãi trong hạn. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận của các bên về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Từ ngày 11/5/2010 ngân hàng đã chuyển số tiền nợ 39.065.928đ làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Như vậy, theo bảng kê tính lãi của ngân hàng số tiền lãi tính đến ngày 06/5/2024 là 188.084.724đ là có căn cứ. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu ông T trả lãi số tiền 188.084.724đ (tính đến ngày 06/5/2024) và tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 07/5/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại các hợp đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

[3] Đối với ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không đến tham gia tố tụng, không có lời trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình. Toà án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn xuất trình và căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Do đó, từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử buộc ông T trả cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi tổng cộng 227.150.652đ và tiếp tục tính lãi phát sinh theo lãi suất hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

[5] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, như đã nhận định trên.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hữu T chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015

- Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Buộc ông Nguyễn Hữu T trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền vốn gốc 39.065.928đ và lãi 188.084.724đ (Lãi tính đến ngày 06/5/2024), tổng cộng 227.150.652đ (Hai trăm hai mươi bảy triệu một trăm năm mươi ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng).

    Kể từ ngày 07/5/2024 số tiền nợ gốc được tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất hợp đồng các bên đã ký ngày 02/8/2008 cho đến khi thanh toán xong.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Ông Nguyễn Hữu T nộp 11.357.500đ án phí dân sự sơ thẩm.

    - Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.696.950đ theo biên lai số 0030594 ngày 25/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Tp ..

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 35/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bên A yêu cầu bên B trả khoản vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger