Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 35/2024/DS-PT

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Đình Thanh;

Bà Võ Thị Trầm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLPT- DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Đình D, sinh năm: 1975 và bà Hồ Thị Thanh L, sinh năm: 1978; cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn M, sinh năm: 1960; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Văn bản ủy quyển số 3418 quyền số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C ngày 18/02/2020). Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị H1, sinh năm: 1974; bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm: 1996; bà Lê Thị Mỹ K, sinh năm: 1998; ông Lê Văn T1, sinh năm: 2000; ông Lê Văn Đ, sinh năm: 2005. Cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của ông/bà: Ngô Thị H1, Lê Thị Cẩm T, Lê Thị Mỹ K, Lê Văn T1, Lê Văn Đ: Ông Lê Văn H; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Các Văn bản ủy quyền số 5444, 5445, 5446, 5447, 5448 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C1 lập ngày 18/02/2022). Có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, nội dung vụ án như sau:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 16/8/2003, ông Nguyễn Đình D1 và bà Hồ Thị Thanh L chuyển nhượng cho ông Lê Văn H quyền sử dụng đất khoảng 600m², thuộc thửa đất số 1121, tờ bản đồ 70 xã N (hiện nay là thửa số 4, tờ bản đồ 70), bản đồ địa chính xã N, thị xã N, tại thôn T, xã N, trên đất có 01 căn nhà diện tích khoảng 30m² (Sau đây viết tắt là nhà đất thửa số 4) với số tiền 35.000.000đ, trong giấy bán nhà chỉ ghi 30.000.000đ. Vì quyền sử dụng đất khi chuyển nhượng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên không làm hợp đồng công chứng mà chỉ viết giấy bán nhà. Nguồn gốc nhà đất thửa số 4 là do ông D1, bà L nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn K1 vào năm 2000 với diện tích 12m x 50m = 600m². Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông K1, ông D1 và bà L xây nhà trên diện tích đất đã chuyển nhượng từ ông K1, được hơn 01 năm thì ông D1, bà L chuyển nhượng lại cho ông H.

Trong giấy bán nhà ngày 16/8/2003, vợ chồng ông D1 thỏa thuận giao trước số tiền 5.000.000đ, sau thời gian 02 năm kể từ ngày bán (16/8/2003) đến tháng 8/2005, vợ chồng ông D1 phải giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến đất và nhà cho ông H và ông H phải giao đủ số tiền còn lại.

Giấy tờ liên quan đến căn nhà mà ông D1 và bà L nói ở đây là giấy mua bán thửa đất của ông K1 cho vợ chồng ông D1, có xác nhận của chính quyền địa phương mà vợ chồng ông D1 đang nắm giữ chứ không phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số đỏ) của căn nhà nói trên.

Ngoài ra, ông D1 và bà L còn lập 1 tờ giấy viết tay khác cũng ghi ngày 16/8/2003. Thực ra tờ giấy này viết sau ngày 16/8/2003 và khì đó ông H đưa cho ông D1, bà L nhiều lần tổng số tiền là 15.000.000đ. Nội dung thỏa thuận là ông H đưa trước 15.000.000đ, sau đó vợ chồng ông D1 phải giao giấy tờ hồ sơ có thẻ đỏ thì ông H giao số tiền còn lại. Giấy tờ hồ sơ có thẻ đỏ thực chất là giấy mua bán viết tay có chứng thực con dấu đỏ của Ủy ban nhân dân xã N.

Ông H đã trả cho vợ chồng ông D1 được 26.498.000đ. Năm 2004 và 2005, ông D1, bà L có làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã N, yêu cầu ông H trả số tiền còn lại, ông H yêu cầu vợ chồng ông D1 phải đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà nói trên thì ông H mới đồng ý giao số tiền còn lại là 8.502.000₫, Ủy ban nhân dân xã N hòa giải không thành. Nay ông D1, bà L công nhận Giấy mua bán nhà ngày 16/8/2003 là đúng và yêu cầu trả ông H trả 8.502.000₫ ông H còn thiếu quy ra thời điểm thẩm định giá theo giá đã thẩm định là 428.182.575₫.

* Tại bản tự khai và quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Văn H trình bày:

Năm 2003, ông và ông D1, bà L làm giấy tay mua bán nhà đất thửa số 4, trong giấy chỉ ghi 30.000.000₫ và ông cho thêm 5.000.000đ, tổng cộng là 35.000.000đ. Vì ông D1, bà L nợ tiền của nhiều người khác nên ông thỏa thuận miệng là ông và ông D1 cùng đi trả nợ cho những người đó rồi ông lấy biên lai. Sau nhiều lần đưa tiền, ông đã đưa cho ông D1, bà L được 26.498.0008đ, còn nợ lại 8.502.000đ. Ông làm giấy khi nào ông D1, bà L giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất và căn nhà thì ông sẽ giao số tiền còn lại. Giấy tờ liên quan đến căn nhà ở đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đứng tên ông. Ông D1, bà L phải sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông mới giao số tiền còn lại. Sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng ông sửa lại toàn bộ căn nhà, xây thêm nhà bếp, mái chái, mái vòm, chuồng bò và xây dựng tường rào xung quanh thửa đất, trồng thêm 01 số cây dừa.

Nay ông D1, bà L khởi kiện yêu cầu ông trả 428.182.575₫. Ông chỉ đồng ý trả cho vợ chồng ông D1 số tiền còn lại 8.502.000đ khi ông D1, bà L chuyển quyền sử dụng đất và nhà cho ông,

* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị H1, Lê Thị Cẩm T, Lê Thị Mỹ K, Lê Văn T1, Lê Văn Đ trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị nguyên đơn.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, 148, 271, 272, 148, 289, khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 31 Luật đất đai năm 1993;

Căn cứ Điều 166, 167 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 689, 690, 692 và Điều 697 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 116 và khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Đình D, bà Hồ Thị Thanh L.

Công nhận Giấy bán nhà lập ngày 16/8/2003 giữa ông Phạm Đình D, bà Hồ Thị Thanh L với ông Lê Văn H đối với thủa đất có diện tích 557,4m² thuộc thửa 04, tờ bản đồ 70, bản đồ địa chính xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS06016 ngày 26/3/2020 tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Ông Lê Văn H có quyền sử dụng thửa đất có diện tích 557,4m² và 01 (Một) căn nhà có diện tích 65,2m² thuộc thửa 04, tờ bản đồ 70, bản đồ địa chính xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).

Ông Phạm Đình D, bà Hồ Thị Thanh L có nghĩa vụ phối hợp cùng ông Lê Văn H làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với lô đất này cho ông Lê Văn H. Trường hợp vợ chồng Ông Phạm Đình D, bà Hồ Thị Thanh L không phối hợp, thì ông Lê Văn H có quyền liên hệ các cơ quan chức năng để thực hiện việc làm thủ tục chuyển nhượng mảnh đất nói trên.

Ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L số tiền 8.502.000₫.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản, án phí, quy định thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/9/2023, nguyên đơn ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Bùi Văn M là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L giữ nguyên toàn bộ kháng cáo, yêu cầu khởi kiện; thống nhất với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 29/TĐG-CT ngày 12/4/2023 của Công ty T2 – Chi nhánh K2. Yêu cầu vợ chồng ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 phải trả cho nguyên đơn 8.502.000₫ (Trong tổng số tiền mua bán nhà đất là 35.000.000đ - Bằng 24,298% giá trị hợp đồng) là số tiền mua nhà đất chưa trả quy ra tại thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ thể: Theo Chứng thư thẩm định giá số 29/TĐG-CT ngày 12/4/2023 của Công ty T2 – Chi nhánh K2 giá trị quyền sử dụng đất là 1.621.530.000₫ x 24,298% = 393.999.359₫ ( Làm tròn số 393.999.000₫).

Nguyên đơn không yêu cầu xem xét giá trị nhà đã bán vì, khi bán nhà đã cũ, giá trị nhà không cao và được bị đơn sửa chữa, cải tạo, làm mới và giao cho bị đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 182286, số vào số cấp GCN: CS 06016, thửa số 4, tờ bản đồ số 70, thôn T, xã N, thị xã N, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 26/3/2020 mang tên ông Nguyễn Văn K1 và bà Đỗ Thị N, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã N chỉnh lý sang tên ông Phạm Đình D ngày 19/9/2020.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định thẩm định giá nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn ông Lê Văn H trình bày: Nhà đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng ông và bà Ngô Thị H1, giấy mua bán nhà chỉ mình ông ký nhưng đó là ý chí của vợ chồng ông và tiền mua nhà là của vợ chồng ông và bà H1. Sau khi mua nhà đất của nguyên đơn, vợ chồng ông đã cải tạo nhà cũ và xây dựng mở rộng thêm như hiện nay. Ông đồng ý kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 29/TĐG-CT ngày 12/4/2023 của Công ty T2 – Chi nhánh K2, giá trị quyền sử dụng đất thửa đất hiện nay là 160.000.000đ/1m ngang x 12m = 1.920.000.000₫. Ông và bà H1 đồng ý cùng trả cho nguyên đơn số tiền mua nhà đất còn thiếu là 8.502.000đ, không đồng ý trả theo giá nguyên đơn yêu cầu tại thời điểm xét xử sơ thẩm, không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định thẩm định giá bị đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự, người tham gia tố tụng khác đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Tòa án sơ thẩm tuyên chỉ buộc ông Lê Văn H có nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng còn thiếu cho ông D, bà L là thiếu sót, cần phải tuyên buộc ông H và bà Ngô Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông D, bà L số tiền 8.502.000đ quy theo tỷ lệ số tiền chưa trả là 24,298% giá trị hợp đồng theo giá tại Chứng thư thẩm định giá số 29/TĐG-CT ngày 12/4/2023 của Công ty T2 – Chi nhánh K2. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Đình D, bà Hồ Thị Thanh L, sửa Bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L:

[1.1] Nguồn gốc thửa đất 04 được vợ chồng ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L mua lại từ ông Nguyễn Văn K1 vào năm 1990, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 18/6/2001. Năm 2000, ông D, bà L xây dựng căn nhà cấp 4 và giếng nước. Ngày 16/8/2003, ông Phạm Đình D, bà Hồ Thị Thanh L chuyển nhượng cho ông Lê Văn H thửa đất trên, hai bên có lập “Giấy bán nhà”, tài sản trên đất có 01 căn nhà khoảng 30m², số tiền chuyển nhượng trong “Giấy bán nhà” là 30.000.000₫ nhưng thực tế số tiền chuyển nhượng là 35.000.000₫.

Các bên thừa nhận ông H đã thanh toán số tiền chuyển nhượng cho ông D và bà L tính đến ngày 29/12/2003 là 26.498.000đ, số tiền chưa thanh toán là 8.522.000₫.

Vợ chồng ông D, bà L đã giao nhà, đất cho vợ chồng ông H ở từ năm 2003. Quá trình sử dụng, vợ chồng ông H và bà H1 có cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, làm thêm phần mái che, giếng nước, sân xi măng, bếp, nhà vệ sinh, chuồng bò, chuồng gà, cổng kéo sắt, trụ cổng xây và lưới rào B40 cùng trụ bê tông trên thửa đất. Tại phiên tòa, ông H xác định nhà đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng ông và bà Ngô Thị H1, giấy mua bán nhà chỉ mình ông ký nhưng đó là ý chí của vợ chồng ông và tiền mua nhà là của vợ chồng ông và bà H1 và đây là tài sản chung của vợ chồng ông và bà H1.

[1.2] Tại thời điểm các bên chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất, phía nguyên đơn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các bên chỉ lập “Giấy bán nhà” ngày 16/8/2003. Vợ chồng ông H, bà H1 đã nhận nhà đất và quản lý sử dụng từ năm 2003 đến nay. Nguyên đơn thừa nhận đã chuyển nhượng nhà và đất tại nhà đất thửa số 4 cho bị đơn nên Tòa án sơ thẩm công nhận Giấy bán nhà ngày 16/8/2003 giữa vợ chồng ông D, bà L với ông H là có căn cứ.

Các bên xác định tính đến ngày 29/12/2003, tổng số tiền ông H đã thanh toán cho ông D là 26.498.000 đồng, số tiền chưa thanh toán là 8.502.000đồng. Năm 2004 và 2005, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn lại nhưng bị đơn không thanh toán, tại phiên tòa phúc thẩm ông H khẳng định “Khi nào ông D có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm thủ tục sang tên thì vợ chồng ông mới giao đủ số tiền mua nhà còn lại”. Sau khi ông D có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn lại theo giá trị quyền sử dụng đất hiện tại tương ứng tỉ lệ số tiền còn thiếu nhưng bị đơn không thực hiện. Như vậy, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn.

Điểm b.2 khoản 2 Mục II của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:

“ b.2) Nếu bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền chuyển nhượng đất; bên chuyển nhượng đã giao toàn bộ diện tích đất, thì Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất đó. Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng mới trả một phần tiền chuyển nhượng đất, bên chuyển nhượng mới giao một phần diện tích đất, thì có thể công nhận phần hợp đồng đó căn cứ vào diện tích đất đã nhận. Nếu công nhận phần hợp đồng trong trường hợp bên chuyển nhượng giao diện tích đất có giá trị lớn hơn số tiền mà họ đã nhận, thì Toà án buộc bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng phần chênh lệch giữa số tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã trả so với diện tích đất thực tế mà họ đã nhận tại thời điểm giao kết hợp đồng theo giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Đồng thời buộc các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà bên nhận chuyển nhượng đã nhận. Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng đã giao số tiền lớn hơn giá trị diện tích đất đã nhận mà Toà án chỉ công nhận phần hợp đồng tương ứng với diện tích đất mà họ đã nhận thì bên chuyển nhượng phải thanh toán khoản tiền đã nhận vượt quá giá trị diện tích đất đã giao tính theo giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm”. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền chưa thanh toán theo giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều thống nhất với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 29/TĐG-CT ngày 12/4/2023 của Công ty T2 – Chi nhánh K2, thống nhất giá trị quyền sử dụng đất là 1.621.530.000đ. Số tiền mua bán nhà đất là 35.000.000đ, bị đơn đã trả 26.498.0008đ, chưa thanh toán 8.502.000 đồng – chiếm tỉ lệ 24,298% giá trị mua bán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền mua nhà đất còn thiếu là: 1.621.530.000₫ x 24,298% = 393.999.359₫ (Làm tròn số 393.999.000₫) là có căn cứ, đúng pháp luật. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn thiếu trên tổng giá trị nhà đất là 1.758.450.000₫ là có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.

Tại Biên bản hòa giải ngày 06/12/2003 và tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều xác định ông H, bà H1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng nhà, đất cho ông D, bà L. Do đó, việc Tòa án sơ thẩm buộc ông Lê Văn H có nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng còn thiếu cho ông D, bà L là thiếu sót, cần buộc vợ chồng ông H và bà Ngô Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng nhà đất còn thiếu cho vợ chồng ông D, bà L.

Từ nhận định trên, công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất tại thửa đất số 04 giữa vợ chồng ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L với ông Lê Văn H theo “Giấy bán nhà” ngày 16/8/2003. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận việc mua bán nhà đất và buộc bị đơn thải thanh toán số tiền chưa thanh toán cho nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H thanh toán cho nguyên đơn số tiền 8.502.000₫ là không đúng pháp luật, mà cần buộc vợ chồng ông H và bà H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông D và bà L số tiền 393.999.000đ, đồng thời, buộc vợ chồng ông D, bà L phải giao cho vợ chồng ông H, bà H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 04. Kháng cáo của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

[3] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự:

- Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá là 25.348.000đ, ông D, bà L đã đóng tạm ứng số tiền này. Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn nên ông H và bà H1 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Ông H và bà H1 có nghĩa vụ trả lại cho ông D, bà L 25.348.000₫.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ông H và bà H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 393.999.000₫ x 5% = 19.699.950 đồng.

Trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 131; 133; 691; 692 và Điều 693 của Bộ luật dân sự năm 1995; các Điều 117; 119; 500; 501; 502 và Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b.3 Tiểu mục 2.3 Mục 2 Phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Án lệ số 04/2016/AL;

- Căn cứ Điều 31 Luật đất đai năm 1993; Điều 166 và Điều 167 Luật đất đai năm 2013;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

* Tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L.

1.1. Công nhận Giấy bán nhà lập ngày 16 tháng 8 năm 2003 giữa ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L với ông Lê Văn H đối với thửa đất có diện tích 557,4m² thuộc thửa 04, tờ bản đồ 70, bản đồ địa chính xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS06016 ngày 26/3/2020 tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 có quyền sử dụng đất thửa đất số 04, tờ bản đồ 70, diện tích 557,4m² và sở hữu 01 (Một) căn nhà có diện tích 65,2m² thuộc tờ bản đồ địa chính xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án sơ thẩm).

1.2. Ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L có nghĩa vụ giao cho vợ chồng ông H và bà H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 182286, số vào số cấp GCN: CS 06016, thửa số 4, tờ bản đồ số 70, thôn T, xã N, thị xã N, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 26/3/2020 mang tên ông Nguyễn Văn K1 và bà Đỗ Thị N, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã N chỉnh lý sang tên ông Phạm Đình D ngày 19/9/2020.

Ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L có nghĩa vụ phối hợp cùng ông Lê Văn H làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với lô đất này cho ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ chồng Ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L không phối hợp, thì ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 có quyền liên hệ các cơ quan chức năng để thực hiện việc làm thủ tục chuyển nhượng mảnh đất nói trên theo quy định của pháp luật.

2.3. Ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L số tiền mua bán nhà đất là 393.999.000₫ (Ba trăm chín mươi ba triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).

2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 phải chịu 25.348.000₫ (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá. Ông H và bà H1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L 25.348.000₫ (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1 phải nộp 19.699.950₫ (Mười chín triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn chín trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L số tiền tạm tứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0004718 ngày 12/4/2022 và 10.704.000₫ (Mười triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0001220 ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trả lại cho ông Phạm Đình D và bà Hồ Thị Thanh L 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm tứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0001530 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

* Qui định chung:

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và bản án có hiệu lực thi hành, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hoà;
  • - TAND TX. Ninh Hòa;
  • - VKSND TX. Ninh Hòa;
  • - Chi cục THADS TX. Ninh Hòa;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Hồng Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 35/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger