|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2023/HS-ST Ngày 21/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa pH1 tòa: Ông Thái Hùng Dũng. | |
| Các Hội thẩm nhân dân: | - Ông Bùi Hữu Thành. |
| - Ông Lê Đắc Tỵ. | |
| Thư ký pH1 tòa: Ông Nguyễn Quốc Dương – Thư ký viên chính. | |
| Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình tham gia pH1 tòa: Ông Đàm Trung Kiên - Kiểm sát viên. | |
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ tên: HCT; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1999 tại: KB, Hòa Bình; Nguyên quán: KB, Hòa Bình; Hộ khẩu thường trú (HKTT): Xóm PMT, MH, KB, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Công H1, sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Họ tên: BBH; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 09 tháng 10 năm 2001 tại: KB, Hòa Bình; Nguyên quán: KB, Hòa Bình; HKTT: Xóm Cành, MH, KB, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bạch Bá H, sinh năm 1976; Con bà: Bùi Thị Th (Đã chết); Vợ con: Chưa có. Tiền án: Không.
Nhân thân: Năm 2015, có hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” bị Công an huyện KB, Hòa Bình xử phạt “Cảnh cáo”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Lạc Thủy, Hòa Bình. Có mặt tại pH1 tòa.
Tiền sự: 01. Ngày 03/10/2022, UBND huyện KB ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn, vũ khí thô sơ” bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Lạc Thủy, Hòa Bình. Có mặt tại pH1 tòa.
- Người bị hại
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Người làm chứng:
Chị NTHT, sinh năm 1992, có mặt.
Địa chỉ: TH, TS, LS, Hòa Bình.
Anh BVT2, sinh năm 2001, vắng mặt.
Địa chỉ: Khu L2, thị trấn BHDD, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Bùi Văn Th1, sinh năm 1975, vắng mặt. Anh NTT, sinh năm 1993, có mặt. Cùng địa chỉ: Thôn ĐH, xã MH, huyện KB, tỉnh Hòa Bình.
- Anh CVT, sinh năm 1998, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Vài, xã Hợp Thanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH1 tòa - nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
HCT và BBH là bạn của nhau và là hai đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định.
Ngày 11/6/2023, HCT và BBH góp mỗi người 100.000 đồng, để cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng. Cả hai đã mượn 01 xe máy HONDA WAVE màu đen, không biển kiểm soát của anh BVT2 (BVT2 không biết HCT và BBH mượn xe để đi đâu, làm gì), rồi HCT chở BBH ngồi phía sau cùng nhau đi ra khu vực thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội để mua ma túy. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi HCT và BBH đi trên đường quốc lộ 21 hướng từ ngã ba TT BHĐ đi Chợ Bến, đoạn thuộc Khu Vôi, TT BHDD, Lạc Thủy, Hòa Bình thì nhìn thấy chị NTHT điều khiển xe mô tô nhãn BBH Wave đi một mình phía trước cùng chiều. Do khu vực này có nhiều đèn điện sáng nên HCT và BBH nhìn thấy ở túi quần phía sau bên trái của chị NTHT đang để 01 chiếc điện thoại di động thò ra bên ngoài. Lúc này, nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, HCT chủ động hỏi BBH “có lấy được chiếc điện thoại kia không?”, BBH nói “có”. HCT liền điều khiển xe máy áp sát phía bên trái, cùng chiều song song với xe của chị NTHT. Rồi BBH đã trực tiếp dùng tay phải nhanh chóng giật chiếc điện thoại ở túi quần bên trái của chị NTHT, sau đó BBH giơ ra trước mặt HCT và nói “em lấy được rồi”. Thấy vậy HCT liền điều khiển xe máy, tăng tốc bỏ chạy hướng ra thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội. Chị NTHT tiếp tục điều khiển xe máy đuổi theo sau 02 đối tượng nhưng do điều khiển xe ở tốc độ cao, không làm chủ được tay lái, chị NTHT đã tự ngã xuống nền đường cách vị trí bị cướp giật khoảng 500m về hướng đi thị trấn Vân Đình. HCT và BBH tiếp tục đi thẳng ra thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội cùng nhau mua 01 gói ma túy, loại Heroine từ một người đàn ông lạ mặt với giá 200.000 đồng tại ven đường. Sau đó HCT và BBH đi về nhà theo đường đi thôn V, HTh, Mỹ Đức, Hà Nội. Khi đang đi trên đường do cả hai đều thèm chất ma túy nên đã dừng lại ở một nghĩa trang dọc đường (Do trời tối, cả hai đều không xác định được địa chỉ cụ thể của nghĩa trang này), cùng nhau sử dụng hết một phần số ma túy mua được, số còn lại HCT chia thành hai phần rồi gói vào 02 tờ giấy bạc cất vào trong túi quần của HCT để đến hôm sau cả hai sử dụng tiếp. Sau đó HCT tháo chiếc sim trong chiếc điện thoại cướp giật được của chị NTHT ra để không ai liên lạc được rồi HCT cất điện thoại vào túi quần còn sim điện thoại thì đưa cho BBH cất đi. Sau đó, BBH điều khiển xe máy chở HCT về đến quán điện thoại của anh CVT. HCT cầm chiếc điện thoại, đi 1 mình vào cửa quán còn BBH ngồi trên xe chờ. Sau khi hỏi giá, HCT thấy giá đắt và phải chờ lâu nên HCT không đồng ý và cất chiếc điện thoại rồi cùng với BBH đi về đến nhà của BBH. Khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, về đến nhà BBH thì HCT và BBH đón BVT2, rồi cả ba cùng đi ra nhà ông Bùi Văn Th1 là người quen của HCT chơi. Sau đó HCT và BBH đứng ở cổng nhà ông Th1 bàn bạc, HCT đưa chiếc điện thoại cướp giật được cho BBH và bảo BBH mang ra quán bẻ khóa. Sau đó BBH đi xe máy của BVT2 đi một mình đi tìm quán sửa chữa điện thoại để bẻ khóa màn hình. Khoảng 05 phút sau, BBH trở về và nói “phá mật khẩu sáng mai mới lấy được”, thấy vậy HCT nói “đặt ở đó mai lấy” rồi bảo BBH cầm điện thoại quay lại để phá khóa. HCT nhờ BVT2 đưa BBH ra phá khóa rồi hãy về nên BVT2 đưa BBH đi bằng xe máy WAVE không biển kiểm soát của BVT2 quay lại cửa hàng điện thoại của anh NTT mà lúc trước BBH mang ra để bẻ khóa. Sau đó BVT2 chở BBH về nhà ông Th1 và BVT2 điều khiển xe một mình đi về nhà BVT2 còn HCT và BBH ở lại. Đến 02 giờ 35 phút ngày 12/6/2023, Cơ quan CSĐT, Công an huyện Lạc Thủy căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với BBH và HCT.
Cáo trạng số: 35/CT-VKS ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Lạc Thuỷ truy tố HCT và BBH về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 BLHS.
* Tại pH1 tòa:
- Bị cáo HCT và BBH thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng truy tố.
- Người bị hại: Không yêu cầu các bị cáo bồi thường, về hình phạt đề nghị theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Áp dụng: điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo HCT, BBH từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù.
- Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên: Trả lại 01 chiếc điện thoại di động cho HCT do không liên quan đến hành vi phạm tội; Trả lại 01 chiếc xe mô tô cho BVT2 do BVT2 không liên quan đến hành vi phạm tội; Thu và lưu hồ sơ vụ án đối với 02 thẻ nhớ lưu dữ liệu điện tử.
- Án phí và quyền kháng cáo áp dụng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo HCT, BBH không có ý kiến tranh luận gì với đề nghị của Viện kiểm sát; Đề nghị HĐXX xem xét, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pH1 tòa, HĐXX nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạc Thuỷ, Điều tra viên; VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH1 tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại pH1 tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/6/2023, khi nhìn thấy chị NTHT điều khiển xe mô tô, ở túi quần phía sau bên trái của chị NTHT đang để 01 chiếc điện thoại di động thò ra bên ngoài. HCT điều khiển xe máy áp sát phía bên trái, BBH dùng tay phải giật chiếc điện thoại ở túi quần bên trái của chị NTHT rồi tẩu thoát.
- [3]. Về tội danh: Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo sử dụng xe mô tô là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 BLHS. VKSND huyện Lạc Thuỷ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, đã trực tiếp xâm phạm một cách trái pháp luật đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên phải chịu hình phạt theo quy định của BLHS.
- [5]. Về nhân thân, tiền sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo
- Về nhân thân, tiền sự:
- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
- [6]. Về hình phạt chính:
- [7]. Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại pH1 toà là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
- [8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường đối với các bị cáo nên HĐXX không xem xét.
- [9]. Các vấn đề khác:
- [10]. Về án phí:
Tại kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Lạc Thủy kết luận: 01 điện thoại SAMSUNG Note 10 plus có giá trị: 5.500.000 đồng; 01 ốp điện thoại có giá trị: 20.000 đồng. Tổng giá trị tài sản HCT và BBH cướp giật của chị NTHT là 5.520.000 đồng.
Năm 2015 HCT bị Công an huyện KB, Hòa Bình xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, đã xóa tiền sự.
Ngày 03/10/2022 BBH bị UBND huyện KB ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn, vũ khí thô sơ” chưa được xóa tiền sự.
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS là căn cứ để HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt chính tương xứng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm; đặc biệt là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy vụ án có tính chất đơn giản, không có sự phân công bàn bạc gì, HCT điều khiển xe máy nhìn thấy sơ hở của người bị hại đã rủ BBH thực hiện hành vi cướp giật tài sản. BBH ngồi sau trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
Đối với BVT2 xác định là người cho HCT và BBH mượn 01 xe máy HONDA WAVE an pha; không có biển kiểm soát nhưng không biết việc HCT và BBH sử dụng làm phương tiện điều khiển khi cướp giật tài sản và đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với BVT2. HĐXX cho là có căn cứ.
Đối với việc phát hiện, thu giữ trên người HCT 02 gói ma túy ngày 12/6/2023 tại ĐH, MH, KB, Hòa Bình và các nội dung liên quan đến việc HCT cùng BBH mua và sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng cục màu nâu ký BBH G1, G2 trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi “M1” gửi giám định có tổng khối lượng 0,06g (Không phẩy không sáu gam), là ma túy, loại Heroine”.
Căn cứ khoản 2 Điều 146, BLTTHS và Điều 11 Thông tư 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an Quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân. Cơ quan CSĐT ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 01/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 17/7/2023 và chuyển tài liệu cùng vật chứng cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện KB theo quy định. Ngày 08/9/2023, Công an huyện KB ra Thông báo số 24/TB-CQĐT về kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm có nêu: “Cơ quan CSĐT Công an huyện KB ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, sau đó chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính đối với HCT và BBH về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. HĐXX cho là phù hợp.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại Điều 331 BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS - Xử phạt bị cáo HCT 3 (Ba) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 12/6/2023.
- Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS - Xử phạt bị cáo BBH 3 (Ba) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 12/6/2023.
- Về vật chứng:
- Về án phí:
- Tuyên bố các bị cáo HCT và BBH phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ Điều 47, Điều 48 BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
Trả lại 01 chiếc điện thoại di động cho HCT; Trả lại 01 chiếc xe mô tô cho BVT2.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình).
+ Thu và lưu hồ sơ vụ án đối với 02 thẻ nhớ lưu dữ liệu điện tử.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 – BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; buộc mỗi bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; Người bị hại kháng cáo Bản án trong thời hạn 15(mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời BBH thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PH1 TÒA Đã ký Thái Hùng Dũng |
Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH về cướp giật tài sản (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 33/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T, H
