Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH

________________
Bản án số: 35/2022/DS-PT
Ngày: 28-3-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Hữu Bình và Bà Ngô Thị Kim Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Minh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2022/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 18-6-2021 của Toà án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2022/QĐ-PT ngày 14 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 24/2022/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Do ông Nguyễn Đình L, Chủ tịch Hội đồng quản trị làm đại diện. Địa chỉ: Số 22 N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Đình L: Ông Huỳnh Cảnh K, Chuyên viên “Theo văn bản ủy quyền số 713/UQ-PVB ngày 13/3/2022” (có mặt).
  • Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1994 (vắng mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Cùng Khóm 5, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
  • Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/5/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (viết tắt là PBank) trình bày: Ngày 16/7/2019, PBank với anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 cùng ký hợp đồng tín dụng số 970/2019/HĐTD/PVB-CN.VL với nội dung: PBank cho anh T và chị T1 vay số tiền gốc bằng 940.000.000 đồng, thời hạn vay 72 tháng, lãi suất năm đầu 9,5%/năm, bắt đầu năm thứ hai tính theo lãi suất thả nổi điều chỉnh theo lãi suất huy động vốn; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; 71 kỳ đầu thỏa thuận trả tiền gốc mỗi tháng bằng 13.056.000 đồng vào ngày 25 hàng tháng, kỳ cuối trả tiền gốc bằng 13.024.000 đồng cộng với tiền lãi phát sinh trên số ngày thực tế; mục đích vay mua xe ôtô. Khi vay, anh T và chị T1 có ký hợp đồng thế chấp tài sản là chiếc xe ôtô hiệu Ford Ranger Raptor, màu trắng, loại 05 chỗ ngồi, số khung MPBUMFE60KX218011, số máy YN2QX218011, biển kiểm soát số 84A-049.83, Giấy đăng ký xe ôtô số 013140 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Trà Vinh cấp ngày 16/7/2019, do anh T đứng tên chủ sở hữu.

Sau vay tiền, anh T và chị T1 thanh toán cho PBank tiền gốc bằng 13.146.961 đồng và tiền lãi bằng 10.544.494 đồng. Từ ngày 24/9/2019 cho đến nay, anh T và chị T1 không thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho PBank, PBank nhiều lần thông báo yêu cầu anh T và chị T1 trả tiền nhưng anh T và chị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, PBank làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T và chị T1 thanh toán cho PBank tổng cộng số tiền bằng 1.140.063.961 đồng, trong đó tiền gốc bằng 926.853.039 đồng, tiền lãi trong hạn bằng 156.274.524 đồng; tiền lãi quá hạn bằng 43.516.828 đồng; tiền lãi chậm trả bằng 13.419.569 đồng. Trường hợp anh T và chị T1 không trả nợ cho PBank thì PBank đề nghị phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 113/2019/HĐBĐ/PVB-CN.VL ngày 16/7/2019 để thu hồi nợ.

Theo bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T1 trình bày: Chị thừa nhận, chị và anh Nguyễn Đức T (vợ chồng) có vay tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ để mua xe ôtô cho anh T làm ăn, cho thuê, chở hàng thuê. Nhưng vay tiền gốc bao nhiêu, thời hạn vay bao lâu, lãi suất như thế nào, thỏa thuận trả nợ tiền gốc và tiền lãi ra sao thì chị không biết vì chị ở nhà nội trợ, anh T thực hiện việc vay, trả nợ và quản lý chiếc xe để kinh doanh. Nay PVcomBank khởi kiện yêu cầu trả nợ theo hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì chị không có ý kiến mà do anh T quyết định.

Riêng bị đơn anh Nguyễn Đức T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án sơ thẩm giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 18-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện D đã quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 282, 295, 298, 308, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Án lệ số 11/2017/AL ngày 14/12/2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
  2. Buộc anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 phải liên đới cùng trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền gốc và tiền lãi tổng cộng bằng 1.126.644.392 đồng. Trong đó: Tiền gốc bằng 926.853.039 đồng; Tiền lãi trong hạn bằng 156.274.525 đồng; Tiền lãi quá hạn bằng 43.516.828 đồng.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ về việc yêu cầu anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 trả tiền lãi chậm trả bằng 13.419.569 đồng.
  4. Trường hợp anh Nguyễn Đức T và anh Nguyễn Thị Ngọc T1 không thanh toán đủ tiền gốc, tiền lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp đối với ôtô con Ford Ranger Raptor...

Ngày 01/7/2021, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử lại theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu tính lãi của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do... Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt anh T và chị T1.

[2] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết buộc anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả cho Ngân hàng bằng 13.419.569 đồng... Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu này là có căn cứ chấp nhận.

[3] ... Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về tính lãi chậm trả là không đúng pháp luật. Do đó, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng kháng cáo yêu cầu anh T và chị T1 trả lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 25/9/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm bằng 13.419.569 đồng, là có căn cứ chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội...

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 18-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
  2. Buộc anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền nợ gốc bằng 926.853.039 đồng, tiền lãi trên nợ gốc bằng 156.274.525 đồng, tiền lãi quá hạn bằng 43.516.828 đồng và tiền lãi chậm trả bằng 13.419.569 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi bằng 1.140.063.961 đồng.
  3. Về án phí: Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ bằng 20.760.500 đồng... Buộc anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 46.201.918 đồng.
  4. Trường hợp anh Nguyễn Đức T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 không thanh toán đủ tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp đối với ôtô con Ford Ranger Raptor...

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Trà Vinh;
- TAND huyện D;
- Chi cục THADS huyện D;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Ngô Đê
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2022/DS-PT ngày 28/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 35/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger