|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Bản án số: 35/2022/DS-PT Ngày: 23 - 02 - 2022 V/v: “Tranh chấp QSD đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Mai Xuân Thành |
| Các Thẩm phán: | Ông Trương Minh Tuấn Bà Lê Thúy Cầu |
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 2 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 299/2021/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp QSD đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2021/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1972 - Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng - Chỗ ở hiện nay: thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- * Bị đơn: Ông Huỳnh K - Sinh năm 1966 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1966 - Địa chỉ: Thôn 5, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T - Sinh năm 1971 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn V - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị B - Sinh năm 1977 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
- Ông Nguyễn T - Sinh năm 1984 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn V, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn T và ông Nguyễn Văn T ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ tham gia tố tụng tại Tòa án (Giấy ủy quyền ngày 11/12/2020 tại Văn Phòng Công chứng Đặng Duy Hùng).
- Bà Võ Thị Kim L - Sinh năm 1962 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn X - Sinh năm 1998 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Bà Võ Thị N - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Ông Huỳnh Ngọc V - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Bà Huỳnh Thị V - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
Bà Võ Thị N, ông Huỳnh Ngọc V và bà Huỳnh Thị V ủy quyền cho ông Huỳnh K tham gia tố tụng tại Tòa án (Giấy ủy quyền ngày 12/12/2020 tại Văn Phòng Công chứng Trần Thị Thanh B).
- Ủy ban nhân dân huyện H - Trụ sở: T tâm hành chính huyện H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
* Tại phiên tòa sơ thẩm Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ - cũng là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn V, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn T và ông Nguyễn Văn T trình bày:
Cha tôi là ông Nguyễn L, sinh năm 1940, chết ngày 19/9/2019. Ngày 13/4/1996 hộ ông Nguyễn L được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được vào sổ số 1853 đối với thửa đất số 624 (Nay là thửa đất số 187, tờ 33), tờ bản đồ số 4, diện tích 252m2, tại địa chỉ thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Mẹ tôi mất năm 1995, trước thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Những người thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn L gồm có các anh chị em của tôi: bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn V, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn T và ông Nguyễn Hiếu (chết ngày 12/10/2019). Những người thừa kết theo pháp luật của ông Nguyễn Hiếu gồm có: bà Võ Thị Kim L, ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn X.
Phía Đông thửa đất của hộ ông Nguyễn L giáp nhà đất của ông Huỳnh K. Tháng 3/2020 ông Huỳnh K triển khai làm nhà, gia đình tôi có làm đơn gửi UBND xã H để yêu cầu xác định mốc giới nhưng không hòa giải thành, ông K vẫn triển khai xây dựng lấn sang đất nhà tôi. Tôi chấp nhận kết quả đo đạc ngày 05/8/2020 của T tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng cũng như kết quả định giá theo chứng thư thẩm định giá ngày 06/5/2021 của Công ty cổ phần thẩm định giá BTCVALUE.
Nay tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Huỳnh K trả lại cho các đồng thừa kế của ông Nguyễn L diện tích đất theo kết quả đo đạc là 35,2m2 đồng thời di dời tài sản trên đất lấn chiếm tại thửa đất số 187, tờ 33 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được vào sổ số 1853 do UBND huyện H cấp ngày 13/4/1996 đứng tên hộ ông Nguyễn L và Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 784301 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 18/7/2019 đứng tên ông Huỳnh K và bà Võ Thị N.
* Tại phiên tòa sơ thẩm Bị đơn ông Huỳnh K - cũng là đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị N, ông Huỳnh Ngọc V và bà Huỳnh Thị V trình bày:
Từ trước năm 1990, gia đình tôi được cấp đất và làm nhà ở ổn định tính đến nay đã được hơn 30 năm. Năm 1996 gia đình tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 623, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa đất số 188, tờ 33), tại thôn H, xã hòa Khương, huyện H, thành phố Đà Nẵng với diện tích 173m2. Năm 2017 tôi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên, khi đo đạc để tiến hành cấp đổi thì có biến động tăng diện tích lên 224,1m2 do phần đất phía sau thửa đất (phía Bắc) giáp với T Tiểu học mới xây tường rào còn lại. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước về diện tích đất tăng thêm và ngày 18/7/2019 đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 784301 đứng tên ông Huỳnh K và bà Võ Thị N với diện tích đất 224,1m2. Đến đầu năm 2020 gia đình tôi đập nhà cũ để xây nhà mới vì nhà cũ xuống cấp và ở sâu dưới mặt đường, thường xuyên bị ngập úng thì ông Nguyễn Văn Đ là con ông Nguyễn L gửi đơn khởi kiện cho rằng gia đình tôi lấn chiếm đất. Sự thật là năm 1994, ông Nguyễn L đến sinh sống và mở máy xay xác lúa gạo. Lúc đó chính quyền chỉ cấp cho ông L 7m ngang, sau đó ông L đặt máy xay xát và hầm trấu trong khuông viên đất được cấp. Do đặt hầm trấu trong nhà sinh nhiều bụi nên ông L có xin bà Phạm Thị M để đặt tạm phân hầm trấu qua phần đất của bà M. Khi cán bộ địa chính đi đo đạc đế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đo luôn phần hầm trấu nên diện tích tăng thêm, khi còn sống ông L cũng thừa nhận điều này.
Hiện tại gia đình tôi vẫn giữ nguyên ranh giới là tường rào với đất ông Nguyễn L như từ trước đến nay, không có biến động gì. Ngày 14/3/2020 ông Nguyễn Văn Đ cho xe máy múc phá bỏ nhà cũ của ông Nguyễn L xây từ năm 1994 nhằm xóa bỏ ranh giới giữa hai nhà. Tuy hiên hiện trạng vẫn còn gốc trụ do ông Nguyên L sử dụng làm ranh giới giữa hai nhà từ năm 1994 đến nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thửa đất số 624, tờ bản đồ số 4 (Nay là thửa đất số 187, tờ 33), với diện tích 252m2 tại thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được vào sổ số 1853 ngày 13/4/1996 đứng tên hộ ông Nguyễn L.
- Thửa đất số 623, tờ bản đồ số 4 (Nay là thửa đất số 188, tờ số 33) tại thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 166770 ngày 15 tháng 8 năm 2005 đứng tên ông Huỳnh K và bà Võ Thị N với diện tích 173m2.
[2] Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ; Hội đồng xét xử xét thấy: Theo kết quả đo đạc của T tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng ngày 05/8/2020 được thực hiện với sự chứng kiến của ông Đ và ông K thì diện tích đất tranh chấp giữa các đương sự là 35,2m2 có chiều ngang phía Nam là 1,10m. Đối chiếu với sơ đồ 64/CP thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 784301 do UBND huyện H cấp ngày ngày 18 tháng 7 năm 2019 đứng tên ông Huỳnh K và bà Võ Thị N có chiều ngang phía Nam dư 0,20m nhưng diện tích đất không thay đổi. Có căn cứ xác định bên ông K lấn 0,20m chứ không phải 1,10 mét như đơn khởi kiện của ông Đ.
Xét thấy: Hiện nay ông K đã xây dựng móng nhà và tường kiên cố, mặt khác diện tích đất lấn sang nhà ông Đ là rất ít nên buộc ông Đ phải thanh toán cho ông K giá trị QSD đất theo định giá là phù hợp đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, cụ thể: 0,20m x 27,28m = 5,456 m2 x 6.556.494đ/m2 = 35.772,231 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của của ông Nguyễn Văn Đ. Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm số: 55/2021/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ đối với ông Huỳnh K về việc buộc ông Huỳnh K phải trả lại phần diện tích đất cho hàng thừa kế của ông Nguyễn L. Diện tích đất là 0,20m x 27,28m = 5,456m2; được quy đổi thành tiền là 5,456m2 x 6.556.494đ/m2 = 35.772,231 đồng.
Ông Huỳnh K có nghĩa vụ thanh toán cho những hàng thừa kế của cụ L 35.772,231 đồng; ông Nguyễn Văn Đ được thay mặt những người thừa kế của cụ L nhận tiền. Ông Huỳnh K được tiếp tục sử dụng diện tích đất nêu trên.
Không chấp nhận yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 784301 do UBND huyện H cấp Ngày 18 tháng 7 năm 2019 đứng tên ông Huỳnh K và bà Võ Thị N.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Cục THADS thành phố Đà Nẵng; - Các đương sự (theo đ/c); - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Xuân Thành |
Bản án số 35/2022/DS-PT ngày 23/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp qsd đất và yêu cầu hủy gcnqsd đất
- Số bản án: 35/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất và yêu cầu hủy GCNQSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/02/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của của ông Nguyễn Văn Đ. Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm số: 55/2021/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
