Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/DS-PT

Ngày 14-6-2022

V/v “Tranh chấp quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tiến Dũng
Các Thẩm phán Ông Lê Đình Nam
Ông Giáp Bá Dự

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà:

Ông Đoàn T1 Lương- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2020/TLPT-DS ngày 25 tháng 6 năm 2020, về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2020/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐ-PT ngày 3 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    - Ông Phạm Ngọc T; địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

    - Bà Đàm Thị S; cư trú cùng địa chỉ của ông Phạm Ngọc T. Có mặt.

  2. Bị đơn:

    - Ông Phạm Văn Đ; địa chỉ: Tổ dân phố 8 (tổ 14 cũ), thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

    - Bà Phạm Thị T; cư trú cùng địa chỉ của ông Phạm Văn Đ. Có mặt.

    Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Chị Phạm Thị Giang T1; địa chỉ: Tổ dân phố 8 (tổ 14 cũ), thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  3. Người kháng cáo:

    - Bị đơn là ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là ông Phạm Ngọc T và bà Đàm Thị S trình bày:

Năm 2011, vợ chồng họ mua của ông Tạ Văn D 660 m² đất và được Uỷ ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 511218 ngày 13-5-2011, thửa số 396, tờ bản đồ số 12, diện tích 660 m² (đất ở là 116 m², đất vườn là 544 m²); đất có tứ cận: Phía Tây Nam giáp quốc lộ 25 dài 11 mét, phía Đông Bắc giáp đường làng dài 9,5 mét, phía Bắc giáp nhà ông Thành dài 67,5 mét, phía Nam giáp nhà ông Đ dài 67 mét.

Khi mua, thửa đất đã được cắm mốc đầu và mốc cuối rõ ràng trước sự chứng kiến của 2 bên gia đình, không có tranh chấp.

Từ đó, họ để nguyên thửa đất, không khai thác hay trồng trọt. Đến ngày 20-4-2017, họ chuẩn bị xây dựng nhà thì phát hiện sự biến dạng hàng rào ở khoảng giữa thửa đất của họ với thửa đất của bị đơn, với hình dáng là bị cong với hình tam giác, chiều dài là 30 mét, chiều rộng đoạn rộng nhất là 1,02 mét, chiều rộng 2 đầu là 0 mét (trên đất có nhiều cây con mọc, hàng rào nằm nghiêng sang phần đất nhà mình). Họ đã nhiều lần thương lượng với bị đơn nhưng đều bị từ chối, cho đó là đất của bị đơn.

Nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị đơn tháo dỡ hàng rào và trả lại cho nguyên đơn 16 m² đất với chiều dài là 30 mét, chiều rộng đoạn rộng nhất là 1,02 mét, chiều rộng 2 đầu là 0 mét (như hiện trạng được Uỷ ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 511218 ngày 13-5-2011).

Bị đơn là ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị T và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là chị Phạm Thị Giang T1 trình bày:

Năm 1984, bị đơn vào lập nghiệp tại huyện K và làm nhà tình nghĩa, nhưng không có đất để làm nhà. Đến năm 1993, bị đơn mua 1 thửa đất của bà Vũ Thị Phương L có chiều ngang là 12,5 mét, chiều dài là 67 mét và được Nhà nước xây nhà trên đất này. Nhà nước cấp giấy chứng nhận còn thiếu 1 mét đất theo chiều ngang so với khi mua đất của bà L. Năm 2017, nguyên đơn mua đất của ông Tạ Văn D và tranh chấp với bị đơn, nguyên đơn còn muốn bị đơn bán phần đất tranh chấp với giá 4.000.000 đồng, nhưng bị đơn không chấp nhận.

Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2020/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Áp dụng khoản 24 Điều 3, Điều 12, Điều 179 và khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Phạm Ngọc T và bà Đàm Thị S
  • Buộc ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T trả lại cho ông Phạm Ngọc T và bà Đàm Thị S phần đất theo thẩm định thực tế là 16 m² nằm trong thửa đất số 396, tờ bản đồ số 12 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 511218 do Uỷ ban nhân dân huyện K cấp ngày 13-5-2011 cho hộ bà Đàm Thị S; phần đất này toạ lạc tại tổ dân phố 8 (tổ 14 cũ), thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; có tứ cận: phía Đông giáp đường làng dài 9,5 mét, phía Tây giáp quốc lộ 25 dài 11 mét, phía Nam giáp đất ông Đ, bà T dài 67 mét (từ vị trí 30 mét đến 36 mét

rộng từ 0 đến 1,6 mét; từ vị trí 36 mét đến 51 mét nhỏ dần từ 1,6, mét đến 0), phía Bắc giáp nhà ông Thành dài 67,5 mét.

  • Ông Phạm Ngọc T, bà Đàm Thị S T1 toán cho ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị T 2.349.000 đồng là giá trị của 7 cây xoan, 6 cây mãng cầu, 1 cây bàng và hàng rào được cắm bởi các cọc gỗ và căng bởi 2 sợi thép gai.
  • Ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T phải chịu 5.900.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  • Ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T có trách nhiệm nộp 5.900.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K để hoàn trả cho ông Phạm Ngọc T và bà Đàm Thị S

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19-5-2020, bị đơn là ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm số 01/2020/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện K.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • Nguời kháng cáo giữ kháng cáo.
  • Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại đơn khởi kiện (bút lục số 1), nguyên đơn yêu cầu ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị T phải trả diện tích đất là 15 m² mà không nêu thời điểm đất bị lấn chiếm, hình dạng, vị trí và tứ cận của phần đất bị lấn chiếm, là thuộc trường hợp đơn khởi kiện không nêu “những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết” quy định tại điểm g khoản 4 Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự; đơn khởi kiện ghi “15 m² này giá trị khoảng 2.000.00 đồng” không có nghĩa về số học.

Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 189 và khoản 1 Điều 193 của Bộ luật tố tụng dân sự để thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Toà án cấp sơ thẩm ấn định; trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án cấp sơ thẩm trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.

Toà án cấp sơ thẩm không yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện mà đã thụ lý vụ án, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[1.2] Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu câu ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị T phải trả diện tích đất là 15 m². Tại Biên bản lấy lời khai do Toà án cấp sơ thẩm lập ngày 21-11-2017 (bút lục 27) và tại Biên bản về việc không tiến hành hoà giải được (mặt sau bút lục 37), nguyên đơn luôn trình bày, họ yêu cầu Toà án buộc bị đơn “phải tháo dỡ hàng rào” và trả lại cho nguyên đơn “diện tích đất là 15 m² với chiều dài: 30 m, chiều rộng đoạn rộng nhất 1,02 m, chiều rộng 2 hai đầu là 0m".

Tham gia tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm, nguyên đơn không thay đổi hay bổ sung yêu cầu khởi kiện.

Thế nhưng, tại bản án sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn “phần đất theo thẩm định thực tế là 16 m²” là vượt quá phạm vi đơn khởi kiện, trái với quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại bản án sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm không đề cập đến sự việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn “phải tháo dỡ hàng rào”, là giải quyết không đầy đủ yêu cầu của nguyên đơn.

[1.3] Tại bản án sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải “... T1 toán cho ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị T tài sản trên đất gồm có 7 cây xoan, 6 cây mãng cầu, 1 cây bàng và hàng rào được cắm bởi các cọc gỗ và căng bởi 2 sợi thép gai có giá trị 2.349.000 đồng”, nhưng lại không tuyên ai được quyền sở hữu số tài sản trên đất, là giải quyết không triệt vụ án (mà Toà án cấp sơ thẩm không xét xử, thì Toà án cấp phúc thẩm cũng không thể xét xử phúc sửa bản án sơ thẩm về vấn đề này được, vì nếu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, sẽ vi phạm nguyên tắc “chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo” quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật tố tụng dân sự).

[2] Về nội dung:

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án cấp sơ thẩm lập ngày 8-8-2018 (bút lục số 126 và 127) thể hiện:

“Vị trí thửa đất số 01 (thửa đất số 396, tờ bản đồ số 12) như sau:

  • Chiều rộng hướng Tây giáp QL 25: 11 m.
  • Chiều rộng hướng Bắc nhà ông Thành: 67,5 m.
  • Chiều rộng hướng Đông giáp đường làng: 9,5 m.
  • Chiều rộng hướng Nam giáp với nhà ông Đ: 67 m.
  • Trong đó, chiều rộng của thửa đất bị thay đổi như sau:
  • Từ tim → 30 m: Hiện trạng không thay đổi: 10,68 m.
  • Từ 30 m →36 m: Có thay đổi về hàng rào nhà ông Đ, phình to phần đất nhà ông Đ: 8,77 m.
  • Từ 36 m → 51 m: Thay đổi nhỏ dần và trở về bình thường: 10,22 m.
  • Từ 51m →67 m: Là hàng rào thẳng, chiều rộng xác định là: 9,5 m.
  • Vị trí thứ 2:
  • Chiều rộng hướng Tây giáp QL 25: 11,5 m.
  • Chiều rộng hướng Đông giáp đường làng: 10,9 m.
  • Chiều rộng hướng Nam giáp với bà Xuội: 66 m.
  • Chiều dài hướng Bắc giáp với đất bà S: 67 m.
  • Chiều rộng bị thay đổi phần ở vị trí 30 m đến 51 m. Đây chính là vị trí đang tranh chấp có diện tích cụ thể như sau:
  • Từ vị trí 30m→ 36 m: rộng dần từ 0 →1,6 m.
  • Từ vị trí 36 m →51 m: nhỏ dần từ 1,6 m → 0.
  • Diện tích tranh chấp được tính là 16 m²”.

Tuy Toà án cấp sơ thẩm có vẽ “sơ đồ thửa đất tranh chấp” (bút lục 129), nhưng tài liệu này lại không phải là sơ đồ được vẽ kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (do Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ không đề cập đến sơ đồ này và sơ đồ không có chữ ký nào của những người tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ).

Do đó, không thể xác định được phần đất tranh chấp có vị trí, hình dạng, kích thước như thế nào sau khi đọc Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ này.

Tại bản án sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm tuyên “Buộc ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T trả lại cho ông Phạm Ngọc Tuấn và bà Đàm Thị S phần đất theo thẩm định thực tế là 16 m² nằm trong thửa đất số 396, tờ bản đồ số 12 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 511218 do Uỷ ban nhân dân huyện K cấp ngày 13-5-2011 cho hộ bà Đàm Thị S; phần đất này toạ lạc tại tổ dân phố 8 (tổ 14 cũ), thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; có tứ cận: phía Đông giáp đường làng dài 9,5 mét, phía Tây giáp quốc lộ 25 dài 11 mét, phía Nam giáp đất ông Đ, bà T dài 67 mét (từ vị trí 30 mét đến 36 mét rộng từ 0 đến 1,6 mét; từ vị trí 36 mét đến 51 mét nhỏ dần từ 1,6, mét đến 0), phía Bắc giáp nhà ông Thành dài 67,5 mét”.

Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án cấp sơ thẩm lập ngày 8-8-2018 (bút lục số 126 và 127) và “sơ đồ thửa đất tranh chấp” (bút lục 129) có tại hồ sơ thì thấy Toà án cấp sơ thẩm quyết định như trên thuộc trường hợp tuyên bản án không rõ ràng, không khả thi, không thể thi hành án được.

Toà án cấp phúc thẩm đã có Quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ số 03/2021/QĐ-UTTA ngày 21-6-2021 có nội dung Uỷ thác cho Toà án nhân dân huyện K xem xét, thẩm định tại chỗ đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tranh chấp về các vấn đề như xác định vị trí, hình dạng, diện tích, tứ cận của thửa đất tranh chấp; vẽ sơ đồ hiện trạng của thửa đất tranh chấp; xác định trên đất tranh chấp có loại cây gì; xác định vật kiến trúc trên đất tranh chấp và định giá tài sản.

Tuy nhiên, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân huyện K lập ngày 15-10-2021 (do Toà án nhân dân huyện K thực hiện việc uỷ thác) thể hiện “Do hình thể thửa đất phức tạp, không đủ điều kiện máy móc để đo đạc và phục hồi ranh giới thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007. Do đó không thể xác định vị trí, hình dạng, diện tích, tứ cận của thửa đất tranh chấp” và tại Biên bản định giá tài sản do Tòa án cấp sơ thẩm lập ngày 15-10-2021 thể hiện “Do không thể tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ không xác định được chính xác diện tích đất tranh chấp và tài sản gắn liền với đất do đó không thể định giá được”.

Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm giải quyết không đầy đủ yêu cầu của nguyên đơn, không giải quyết triệt để vụ án, giải quyết vượt quá phạm vi đơn khởi kiện, việc thu thập chứng cứ và chứng minh không đúng quy định tại chương VII của Bộ luật tố tụng dân sự mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, quyết định của bản án sơ thẩm không rõ ràng, không khả thi, không thể thi hành án được.

[3] Từ các nhận định tại [1] và [2] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm:

Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm bị kháng cáo, nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2020/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã xét xử vụ án về tranh chấp quyền sử dụng đất, giữa nguyên đơn là ông Phạm Ngọc T, bà Đàm Thị S với bị đơn là ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T.
  2. Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  4. - Ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả lại cho ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0006279 ngày 27-5-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Gia Lai.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Tòa án nhân dân huyện K;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa dân sự, Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2022/DS-PT ngày 14/06/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 35/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Phạm Ngọc T với bị đơn Đàm Thị S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger