Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG


Bản án số: 35/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 27-5-2021

V/v: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Văn Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2021/TLST–HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp: “Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐXXST–HNGĐ ngày 05/5/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh C; địa chỉ tạm trú: Khu phố 3, phường Mỹ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Cái Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: Xã L, huyện P, tỉnh T; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ N, đường NB14, khu phố 3, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 23/3/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Kim X trình bày: Bà X và ông T có chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn từ năm 2008 cho đến tháng 01/2021 và có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau. Việc bà X và ông T về chung sống với nhau được gia đình hai bên chấp nhận. Vợ chồng sống chung với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình và có hai con chung. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường xuyên tham gia đánh bạc, cá độ đá banh thắng thua bằng tiền. Khi về nhà, ông T thường xuyên lấy dao hăm dọa, bạo lực thể chất và tinh thần đối với bà X. Ông T thường xuyên đập phá đồ đạc trong gia đình. Do đó, bà X đã đưa các con đi trốn tránh ông T nhiều lần nhưng ông T thường tìm đến gây sự với bà X làm cho nhiều chủ nhà trọ từ chối không cho mẹ con bà X ở nữa. Bà X nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện tại, không ai quan tâm chăm sóc nhau. Do đó, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Cái Văn T. Hiện tại, bà X và ông T không còn sống chung nhà và đã ly thân từ tháng 01/2021 cho đến nay.

Về con chung: Bà Lê Thị Kim X và ông Cái Văn T có hai con chung tên Cái Văn Tr, sinh ngày 22/01/2010 và Cái Thị Kim L, sinh ngày 21/11/2011. Bà Lê Thị Kim X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và yêu cầu ông Cái Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Tr và cháu L 3.000.000 đồng/tháng/02 cháu cho đến khi đủ 18 tuổi. Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, bà thay đổi ý kiến về con chung, cụ thể: Bà Lê Thị Kim X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Cái Thị Kim L, sinh ngày 21/11/2011. Giao con chung là cháu Cái Văn Tr, sinh ngày 22/01/2010 cho ông Cái Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Kim X và ông Cái Văn T không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Cái Văn T trình bày: Ông Cái Văn T không đồng ý đối với yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Lê Thị Kim X vì ông T còn thương vợ thương con và ông T vẫn còn tình cảm với bà X. Ông T thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng ông thường xuyên bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Cuộc sống hôn nhân của hai người đã không còn hạnh phúc, do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên, tại buổi kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ông T yêu cầu: Giao con chung là cháu Cái Văn Tr cho ông Cái Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao cháu Cái Thị Kim L cho bà Lê Thị Kim X được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn và bị đơn sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn và nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn. Tòa án xác định đây là: “Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn đang sinh sống và có đăng ký tạm trú tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

[3] Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.

[4] Về nội dung: Bà Lê Thị Kim X và ông Cái Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, hôn nhân giữa bà X và ông T không làm phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ và chồng nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Lê Thị Kim X với ông Cái Văn T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Cái Văn Tr, sinh ngày 22/01/2010 cho ông Cái Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao cháu Cái Thị Kim L, sinh ngày 21/11/2011 cho bà Lê Thị Kim X được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 16; Khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim X về việc: “Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” với bị đơn ông Cái Văn T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Kim X với ông Cái Văn T.
  3. Về con chung: Giao con chung là cháu Cái Văn Tr cho ông Cái Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Cái Thị Kim L cho bà Lê Thị Kim X trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về án phí: Bà Lê Thị Kim X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thị xã Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thị xã Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Văn Thị Thanh Trúc
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2021/HNGĐ-ST ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương về tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 35/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Kim X với ông Cái Văn T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger