|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 35/2021/DS-ST Ngày: 23-6-2021 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Minh Cảnh
- Bà Trần Thị Mộng Lành
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp về hợp đồng dân sự tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2021/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân TB;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1949, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng nhân dân TB.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1966, đại diện theo giấy ủy quyền số: 01/GQU-HĐQT ngày 05 tháng 01 năm 2019 (có mặt);
Địa chỉ: Kp2, thị trấn TB, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn:
- Anh Trần Văn V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974 (vắng mặt);
- Chị Trần Thị A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1971 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 13/11/2020 và trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Quốc D người đại diện theo của Quỹ tín dụng nhân dân TB trình bày và yêu cầu như sau:
Vào ngày 19/9/2019, Quỹ tín dụng nhân dân TB có cho anh Trần Văn V và chị Trần Thị A vay số tiền 80.000.000 đồng theo Hợp đồng thỏa thuận cho vay số: [...]/HĐTTCV, lãi suất vay 1,15%/ tháng, lãi quá hạn bằng 1,725%/ tháng (150% lãi suất trong hạn), thời hạn vay 15 tháng (từ ngày 19/9/2019 đến ngày 19/12/2020), mục đích sử dụng phục vụ đời sống; khi vay anh V và chị A có thế chấp cho Quỹ tín dụng Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 869949, thửa đất số: 01, tờ bản đồ số: 199-2017, diện tích 1.144,1 mét vuông, tại ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, số vào sổ cấp GCN: CH 03154 ngày 03/5/2018 của Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cấp cho anh Trần Văn V theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTCTS ngày 19/9/2019. Theo hợp đồng đã ký kết nói trên thì 03 tháng trả lãi 01 lần và trả vốn gốc dứt điểm khi hợp đồng hết hạn vào ngày 19/12/2020 nhưng đến nay anh V và chị A chỉ trả lãi 01 lần, Quỹ tín dụng có liên hệ anh V và chị A nhắc nhở nhiều lần vẫn không thực hiện trả nợ vay. Nay ông yêu cầu anh Trần Văn V và chị Trần Thị A phải trả lại cho Quỹ tín dụng nhân dân TB tiền vốn gốc và lãi tính đến ngày 13/11/2020 là 89.542.000 đồng và trả lãi phát sinh từ ngày 14/11/2020 cho đến khi thanh toán xong món nợ nêu trên. Đồng thời, yêu cầu xử lý tài sản mà anh V và chị A thế chấp cho Quỹ tín dụng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 869949, thửa đất số: 01, tờ bản đồ số: 199-2017, diện tích 1.144,1 mét vuông, tại ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, số vào sổ cấp GCN: CH 03154 ngày 03/5/2018 của Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cấp cho anh Trần Văn V, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTCTS ngày 19/9/2019.
* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27 tháng 5 năm 2021, bị đơn anh Trần Văn V trình bày như sau:
Vào ngày 19/9/2019, vợ chồng anh có vay của Quỹ tín dụng nhân dân TB số tiền 80.000.000 đồng theo Hợp đồng thỏa thuận cho vay số: [...]/HĐTTCV, lãi suất vay 1,15%/ tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 15 tháng (từ ngày 19/9/2019 đến ngày 19/12/2020), mục đích sử dụng phục vụ đời sống; khi vay vợ chồng anh có thế chấp cho Quỹ tín dụng Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 869949, thửa đất số: 01, tờ bản đồ số: 199-2017, diện tích 1.144,1 mét vuông, tại ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, số vào sổ cấp GCN: CH 03154 ngày 03/5/2018 của Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cấp cho anh Trần Văn V theo hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTCTS ngày 19/9/2019. Theo hợp đồng đã ký kết nói trên thì 03 tháng trả lãi 01 lần và trả vốn gốc dứt điểm khi hợp đồng hết hạn vào ngày 19/12/2020 nhưng đến nay vợ chồng anh chỉ trả lãi 01 lần, Quỹ tín dụng có liên hệ vợ chồng anh trả nợ vay nhiều lần nhưng do làm ăn không được, không có tiền trả cho Quỹ tín dụng nhân dân TB. Nay anh xác định vợ chồng anh còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân TB tiền vốn gốc và lãi tính đến ngày 13/11/2020 là 89.542.000 đồng. Trong đó: Tiền vốn gốc 80.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13/11/2020 là 9.542.000 đồng, anh hẹn vợ chồng anh trả mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi trả đủ số tiền còn nợ nói trên, ngày bắt đầu trả từ ngày 27/6/2021. Nếu anh vi phạm bất cứ lần hẹn trả nào thì Quỹ tín dụng có quyền yêu cầu thi hành toàn bộ số tiền vợ chồng anh còn nợ Quỹ tín dụng và anh đồng ý cho Quỹ tín dụng yêu cầu xử lý tài sản mà vợ chồng tôi thế chấp theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 869949, thửa đất số: 01, tờ bản đồ số: 199-2017, diện tích 1.144,1 mét vuông, tại ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, số vào sổ cấp GCN: CH 03154 ngày 03/5/2018 của Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cấp cho anh Trần Văn V theo hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTCTS ngày 19/9/2019, diện tích đất vợ chồng anh thế chấp cho Quỹ tín dụng hiện nay vợ chồng anh đang sử dụng.
* Bị đơn chị Trần Thị A: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V và chị A biết để anh chị có ý kiến về việc Quỹ tín dụng nhân dân TB yêu cầu anh chị trả tiền vay còn nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân TB, nhưng anh chị không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân TB yêu cầu bị đơn anh Trần Văn V và chị Trần Thị A trả tiền vay còn nợ và xử lý tài sản thế chấp. Bị đơn anh Trần Văn V và chị Trần Thị A, cư trú tại: ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, được xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Trần Văn V và chị Trần Thị A biết và ấn định thời gian để anh chị có ý kiến về việc nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân TB khởi kiện đối với anh chị trả tiền vay và xử lý tài sản thế chấp nhưng anh V và chị A không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh V và chị A vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại Điều 206 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh V và chị A, tại phiên tòa lần thứ nhất anh V có mặt, tại phiên tòa hôm nay anh V và chị A cố tình vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đồng thời, tại phiên toà lần thứ hai ông Nguyễn Quốc D người đại diện của nguyên đơn không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh V và chị A theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Xét khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân TB yêu cầu anh V và chị A phải trả lại cho Quỹ tín dụng nhân dân TB tiền vốn gốc và lãi tính đến ngày 23/6/2021 là 101.344.000 đồng và trả lãi phát sinh từ ngày 24/6/2021 cho đến khi thanh toán xong món nợ nêu trên. Đồng thời, yêu cầu xử lý tài sản mà anh Trần Văn V và chị Trần Thị A thế chấp cho Quỹ tín dụng Quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTCTS ngày 19/9/2019 để thu hồi nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân TB thì anh V hẹn trả mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi trả đủ số tiền còn nợ nói trên, nếu vi phạm bất cứ lần hẹn trả nào thì Quỹ tín dụng có quyền yêu cầu thi hành toàn bộ số tiền vợ chồng anh còn nợ Quỹ tín dụng và anh đồng ý cho Quỹ tín dụng yêu cầu xử lý tài sản mà vợ chồng anh thế chấp theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 869949, thửa đất số: 01, tờ bản đồ số: 199-2017, diện tích 1.144,1 mét vuông, tại ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, số vào sổ cấp GCN: CH 03154 ngày 03/5/2018 của Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cấp cho anh Trần Văn V theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTCTS ngày 19/9/2019, chị Trần Thị A không có ý kiến yêu cầu gì. Hội đồng xét xử thấy rắng, trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn anh Trần Văn V cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án là phù hợp với nhau, có đủ cơ sở xác định được ngày 19/9/2019, anh V và chị A có vay của Quỹ tín dụng nhân dân TB số tiền vốn gốc là 80.000.000 đồng vốn gốc tính đến ngày 23/6/2021 tiền vốn gốc và lãi là 101.344.000 đồng, là có thật phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng đến hạn trả nợ theo hợp đồng tín dụng anh V và chị A không trả đúng theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 292, Điều 298, khoản 1 Điều 299, Điều 303, Điền 429, Điều 463, Điều 466, Điều 469 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 6, Điều 90, Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc anh Trần Văn V và chị Trần Thị A phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân tiền vốn gốc và lãi tính đến ngày ngày 23/6/2021 là 101.344.000 đồng. Trong đó: tiền vốn gốc là 80.000.000 đồng, tiền lãi là 21.344.000 đồng và trả lãi phát sinh từ ngày 24/6/2021 cho đến khi thanh toán xong món nợ nêu trên theo Hợp đồng thỏa thuận cho vay số: [...]/HĐTTCV ngày 19/9/2019.
2. Về tài sản để bảo đảm việc trả nợ: Trường hợp anh Trần Văn V và chị Trần Thị A không thực hiện hoặc chậm thực hiện trả nợ cho Quỹ tín dụng thì Quỹ tín dụng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 869949, thửa đất số: 01, tờ bản đồ số: 199-2017, diện tích 1.144,1 mét vuông, tại ấp TS1, xã Đ1, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, số vào sổ cấp GCN: CH 03154 ngày 03/5/2018 của Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cấp cho anh Trần Văn V để trả nợ khoản tiền vay nói trên cho Quỹ tín dụng nhân dân TB.
3. Về án phí: Buộc anh Trần Văn V và chị Trần Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.067.200 đồng (101.344.000 đồng x 5%). Quỹ tín dụng nhân dân TB không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Quỹ tín dụng số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 2.238.550 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007087 ngày 11/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/6/2021. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |
Bản án số 35/2021/DS-ST ngày 23/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 35/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quỹ tín dụng nhân dân TB yêu cầu anh Trần Văn V, chị Trần Thị A trả tiền vay, xử lý tài sản thế chấp đế trả nợ vay
