|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 34A./2025/DS - PT
Ngày: 21/02/2025
V/v tranh chấp thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quế
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Lê Thị Hồng Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 và ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 170/2024/TLPT- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp thừa kế.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS - ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 261/QĐPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Đồng Thị B, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, Tp S, Thái Nguyên (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và rút đơn khởi kiện);
- Bà Đồng Thị L, sinh năm 1953;
Địa chỉ: TDP C, phường C, Tp S, Thái Nguyên (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và rút đơn khởi kiện);
- Bà Đồng Thị O, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Xóm S, xã Q, Tp T, Thái Nguyên (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và rút đơn khởi kiện);
- Bà Đồng Thị C, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, Tp S, Thái Nguyên (có mặt);
- Ông Đồng Văn Ả, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Xóm C, xã B, Tp S, Thái Nguyên (có mặt);
- Bà Đồng Thị B, sinh năm 1950;
2
-
- Bà Đồng Thị H, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Xóm L, xã B, Tp S, Thái Nguyên (có mặt);
- Bà Đồng Thị M, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Xóm L, xã B, Tp S, Thái Nguyên (có mặt);
- Bà Đồng Thị N, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường B, Tp S, Thái Nguyên (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C, Ảnh, H, M, N: Ông Lương Thành Đ, bà Nguyễn Thanh H1 - Luật sư thuộc Công ty L2.
Địa chỉ: P 1936, tòa nhà H, khu đô thị L, đường N, phường H, quận H, Tp Hà Nội (đều có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án);
- Bà Đồng Thị H, sinh năm 1967;
- Bị đơn:
- Ông Đồng Văn C1, sinh năm 1957 (có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án);
- Bà Dương Thị T, sinh năm 1958 (vợ ông C1 có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án);
Đều trú tại: Xóm C, xã B, Tp S, Thái Nguyên
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đồng Thanh G, sinh năm 1978 (con trai ông C1 vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên.
- Anh Đồng Văn H2, sinh năm 1984 (con trai ông C1 có mặt);
- Chị Đinh Thị B1, sinh năm 1981 (con dâu ông C1 vắng mặt);
Đều địa chỉ: Xóm C, xã B, TP S, Thái Nguyên
- Bà Phạm Thúy K - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, Thái Nguyên (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân thành phố S, Thái Nguyên;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Duy N1 chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Dương Thị H3 - chức vụ: Phó phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố S (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Đồng Thanh G, sinh năm 1978 (con trai ông C1 vắng mặt);
- Người làm chứng : Ông Đồng Văn L1, sinh năm 1965
Địa chỉ: Xóm C, xã B, TP S, Thái Nguyên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm các đồng nguyên đơn trình bày: Cụ Đồng Văn H4, sinh năm 1928 (chết năm 1997) và cụ Lê Thị C2, sinh năm 1929 (chết năm 2013), hai cụ có 9 người con là: Đồng Thị B, sinh năm 1950; Bà Đồng Thị L, sinh năm 1953; Đồng Văn C1, sinh năm 1957; Đồng Thị O, sinh năm 1959; Đồng Thị C, sinh năm 1962; Đồng Văn Ả, sinh năm 1963; Đồng Thị H, sinh năm 1967; Đồng Thị M, sinh năm 1969; Đồng Thị N, sinh năm 1972.
Về nguồn gốc đất: Khoảng năm 1989 cụ H4, cụ C2 được nhà nước giao đất ở và đất nông nghiệp có địa chỉ tại xóm C, xã B. Năm 1991 cụ H4, cụ C2
3
được UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.996m² mang tên cụ Đồng Văn H4. Ngày 29/5/1993 được nhà nước công nhận thêm 376m² của hai thửa đất số 7 và 8 tờ bản đồ số 8/3 (8-III) tổng diện tích là 8.372m². Trên đất có ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ, giếng nước. Sau đó ông C1 tự ý tháo dỡ và xây dựng hai căn nhà khác hiện nay đều do gia đình ông C1 sử dụng. Năm 1997 cụ Đồng Văn H4 chết, trước khi chết cụ không để lại di chúc. Năm 2013 cụ Lê Thị C2 chết cũng không để lại di chúc. Sau khi hai cụ chết ông Đồng Văn C1 tự ý chiếm dụng toàn bộ các thửa đất mà hai cụ để lại mà không phân chia cho các anh em trong gia đình. Sau đó ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa số 29, 30, 38, 31 đều cùng tờ bản đồ số 7-II; Thửa 239, 205 cùng tờ bản đồ số 8-I; thửa số 7, 8, 4 cùng tờ bản đồ số 8-III đều có địa chỉ tại xóm C, xã B, thành phố S, Thái Nguyên, khi ông C1, bà T sang tên các thửa đất trên anh chị em trong gia đình đều không được biết. Nay các đồng nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:
- Chia di sản thừa kế của cụ Đồng Văn H4 và cụ Lê Thị C2 để lại tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/02/1991. Ngày 29/5/1993 cấp bổ sung thêm 376m² của hai thửa đất số 7, 8, TBĐ 8-III. Tổng diện tích 8.372m², có địa chỉ tại xóm C, xã B, thành phố S, Thái Nguyên theo quy định.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/02/1991 và đăng ký biến động thêm ngày 29/5/1993 mang tên ông Đồng Văn H4; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 29, tờ bản đồ 7-II, diện tích 1.420m² (trong đó đất ở nông thôn 400m²; đất cây lâu năm 1.020m²) do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 30, 38, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 1.736m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 31, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 653m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 239, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 320m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 205, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 320m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 7, 8, tờ bản đồ số 8-III, diện tích 376m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 14/01/2009 thửa số 4, tờ bản đồ số 8-III, diện tích 816m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T đều có địa chỉ tại xóm C, xã B, thành phố S, Thái Nguyên.
Yêu cầu bổ sung khởi kiện gồm:
4
- Sửa đổi yêu cầu chia di sản thừa kế: Yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do hai cụ: Đồng Văn H4 và Lê Thị C2 để lại, gồm các thửa đất sau:
- Thửa đất số 29, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 1420m² trong đó có 400m² đất ở và 1.020m² đất cây lâu năm; Thửa đất số 30 (diện tích 976m²); thửa đất số 38 (diện tích 760m²), cùng tờ bản đồ số 7-II; thửa đất số 7 (diện tích 188m²) và thửa đất số 8 (diện tích 188m²) cùng tờ bản đồ số 8-III, mục đích sử dụng: Đất mầu; Phần diện tích đất 5% bố mẹ chúng tôi được hưởng tại xứ đồng Lim một phần thuộc thửa đất số 4, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 360m²; Phần đất nông nghiệp diện tích 1.028m² được chia theo nhân khẩu thuộc một phần các thửa: Một phần thửa đất số 4, diện tích 456m², thửa đất số 205, diện tích 320m² tại xứ đồng Na Bành; thửa đất 239, diện tích 1280m² tại xứ đồng Lim.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số BH 828441 ngày 08/03/2012 mang tên Đồng Văn H2 do UBND thị xã S cấp đối với thửa đất số 29A, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 200m²; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 828438 do UBND thị xã S cấp ngày 08/03/2012 mang tên Đồng Văn H2 đối với thửa đất số 30, 30A, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 944m²; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221395 mang tên Đồng Thanh Gương và Đinh Thị B1 do UBND thị xã S cấp ngày 14/01/2009 đối với thửa đất 239A, tờ bản đồ số 8-I;
- Buộc ông C1, bà T và anh G, chị B1 phải trả lại cho bà Đồng Thị N phần diện tích đất nhân khẩu tiêu chuẩn được HTX Hát Chúc chia năm 1991, diện tích 1.028m² thuộc một phần các thửa đất: Thửa đất số 4, diện tích 456m²; thửa đất số 205, diện tích 320m² tại xứ đồng Na Bành và thửa đất 239, diện tích 1.280m² tại xứ đồng Lim. Để đảm bảo thuận tiện canh tác, tôi đề nghị nhận phần diện tích đất nhân khẩu tiêu chuẩn trong thửa đất số 239, diện tích 1.280m².
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lê Thị C2 và ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T do UBND xã B chứng thực ngày 19/8/2008; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lê Thị C2 và anh Đồng Thanh G, chị Đinh Thị B1 do UBND xã B chứng thực ngày 19/8/2008.
- Không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 31, diện tích 2.424m² do thửa đất này đã được chuyển nhượng cho người khác và hiện trạng đã bị san lấp, không rõ ranh giới, mốc giới.
Bản kết luận giám định của V Bộ C3 ngày 10/6/2024 đã kết luận về đối tượng giám định: Đối với chữ ký “M” các chữ “Đồng Thị M” dưới mục “Các thành viên trong gia đình” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Đồng Thị M trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 do cùng một người ký viết ra, các đồng nguyên đơn không nhất trí, nhưng không đề
5
nghị Tòa án giám định chữ ký, chữ viết ở đơn vị nào khác. Quá trình giải quyết bà B, bà O có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa bà L xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông C1, bà T trình bày: Ông C1, bà T xác nhận bố mẹ đẻ của ông C1 là cụ Đồng Văn H4, sinh năm 1928 (chết năm 1997) và cụ Lê Thị C2, sinh năm 1929 (chết năm 2013). Bố mẹ ông C1 sinh được 9 người con như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Bố mẹ ông được UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 8.372m² là đúng. Khi hai cụ còn sống,vợ chồng ông ở cùng với hai cụ. Năm 1997, cụ H4 bị bệnh đã qua đời, không để lại di chúc. Năm 2006, khi nhà cũ đổ nát ông xây dựng nhà khác trên mảnh đất đó. Tháng 3/2008, cụ C2 đi làm thủ tục chuyển Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cụ H4 sang tên cụ Lê Thị C2. Sau đó cụ C2 đã làm thủ tục chuyển Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cụ C2 sang cho ông, lúc đó mẹ ông hoàn toàn khỏe mạnh, tỉnh táo, mẹ ông đã gọi tất cả các con về để họp gia đình và nói chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất của bố mẹ sang tên ông, có lập biên bản họp gia đình, có chữ ký của tất cả các thành viên trong gia đình. Cụ thể là các thửa đất: 29, 30, 38, 31, 239, 205, 7, 8, 4. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221263 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 29, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 1.420m² (trong đó đất ở nông thôn 400m²; đất cây lâu năm 1.020m²) do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221389 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 30, 38, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 1.736m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221394 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 31, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 653m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số AK 221393 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 239, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 320m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221391 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 205, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 320m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221390 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 7, 8, tờ bản đồ số 8-III, diện tích 376m² do UBND thị xã S cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. (Do ông tự khai phá không phải là đất của bố mẹ cho).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221392 cấp ngày 14/01/2009 thửa số 4, tờ bản đồ số 8-III, diện tích 816m² do UBND thị xã S
6
cấp mang tên ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T. Các thửa đất đều ở xóm C, xã B, thành phố S, Thái Nguyên.
Năm 2008, ông tự nguyện cắt cho ông Đồng Văn Ả một thửa bãi 5 sào tương đương 1.800m² đất, tờ bản đồ số 7-II. Năm 2008, cụ C2 tặng cho cháu đích tôn là Đồng Thanh Gương 750m² đất ruộng tại thửa số 239, tờ bản đồ số 8-I đã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Năm 2011, ông cho con trai là Đồng Văn H2 150m² đất thổ cư và 2.850m² đất trồng cây lâu năm và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Con trai ông đã bán khoảng hơn 1.000m² đất cho người khác.
Toàn bộ các thửa đất còn lại mang tên vợ chồng ông hiện tại vợ chồng ông vẫn đang canh tác, sử dụng từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay các đồng nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của cụ Đồng Văn H4 và cụ Lê Thị C2 để lại tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 224847 diện tích 7.996m² cấp ngày 11/02/1991. Ngày 29/5/1993 cấp bổ sung thêm 376m² của hai thửa đất số 7, 8, tờ bản đồ số 8-III. Tổng diện tích 8.372m², đều có địa chỉ tại xóm C, xã B, thành phố S, Thái Nguyên và đề nghị Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sau thời điểm 2008. Quan điểm của ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện trên, vì lý do: Toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông được nhận tặng cho từ mẹ ông là cụ C2, vợ chồng ông đã có biên bản họp gia đình và đã làm thủ tục sang tên đúng theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh Đồng Thanh G và vợ là chị Đinh Thị B1 trình bày: Anh là con đẻ của ông C1, bà T, anh xác định năm 2008 khi bà nội anh là cụ Lê Thị C2 còn sống có cho vợ chồng anh một phần diện tích đất tại thửa 239, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 673m² địa chỉ xóm Chúc, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, Thái Nguyên. Vợ chồng anh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221395 thửa cấp mới 239A, tờ bản đồ số 8-I, diện tích 673m², địa chỉ xóm C, xã B, thành phố S, Thái Nguyên mang tên Đồng Thanh G, Đinh Thị B1. Nay các cô, chú đề nghị Tòa án giải quyết chia thừa kế và đề nghị Tòa án hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ anh và vợ chồng anh, anh không nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Đồng Thanh H5 trình bày: Anh là con đẻ của ông C1, bà T, anh được bố mẹ nuôi cho ăn học, lớn lên bố mẹ anh lấy vợ và làm nhà cho anh ở riêng, nên anh không liên quan đến đất của hai cụ và các ông bà, nay các ông bà khởi kiện anh xin vắng mặt trong suốt quá trình xét xử.
Đại diện UBND thành phố Sông Công trình bày: Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Lê Thị C2 ngày 17/01/2001, căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của bà Lê Thị C2 cho ông Đồng Văn
7
C1, bà Dương Thị T đã được UBND xã B chứng thực ngày 19/8/2008; căn cứ biên bản họp gia đình phân chia quyền sử dụng đất đã được UBND xã B xác nhận ngày 17/8/2008 dưới sự chứng kiến của trưởng xóm C, UBND thị xã S đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T theo đúng thoả thuận giữa bên tặng cho và bên nhận tặng cho và theo đúng biên bản họp gia đình phân chia quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đồng nguyên đơn và các nguyên đơn bà N, bà M, bà C, bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các nguyên đơn xác định tài sản đang tranh chấp là di sản chung của cụ H4, cụ C2 và đề nghị Tòa án chia đều cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật và tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C1, bà T và anh G, chị B1, anh H5, bà C2. Đề nghị ông C1, bà T trả lại phần diện tích đất tiêu chuẩn được chia của bà N. Phần tài sản trên đất của ông C1 phía nguyên đơn không có ý kiến gì. Về chi phí tố tụng, chi phí giám định các nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bà Đồng Thị L rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế, không yêu cầu nhận phần di sản thừa kế.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện về chia thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đồng Thị B, bà Đồng Thị O, bà Đồng Thị L do các bà đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với nội dung nêu trên, tại bản án sơ thẩm số 23/2024/DS - ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã xét
xử và quyết định: Căn cứ: Khoản 5 Điều 26, 35, 39; khoản 2 Điều 147; khoản 2 Điều 157, Điều 158; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự; Các Điều: 100, 166, 167 và 203 của Luật Đất đai; Điều 11, Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-BTVQH14 ngày 30tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện về tranh chấp chia di sản thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đồng Thị B và bà Đồng Thị O, bà Đồng Thị L do đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn về yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đồng Văn H4 và cụ Lê Thị C2; yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã S cấp ngày 14/01/2009 cho ông Đồng Văn C1 và bà Dương Thị T số AK 221263 (thửa 29 tờ 7-II diện
8
- tích 1.420m²); số AK 221389 (Thửa 30 tờ 7-II diện tích 976m² và Thửa 38 tờ bản đồ số 7-II, diện tích 760m²); số AK221390 (Thửa 7 tờ bản đồ số 8-III diện tích 188m² và Thửa 8 tờ bản đồ số 8-III diện tích 188m²); số AK 221391 (Thửa 205 tờ bản đồ số 8-I diện tích 320m²); số AK 221394 (Thửa 31 tờ bản đồ số 7-II diện tích 653m²); số AK 221392 (Thửa 4 tờ bản đồ số 8-III diện tích 816m²); số AK 221393 (Thửa 239 tờ 8-I diện tích 564m²); số BH 828441 ngày 08/03/2012 (thửa đất số 29A, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 200m²); số BH 828438 (thửa đất số 30, 30A, tờ bản đồ số 7-II, diện tích 944m²); số AK 221395 (thửa đất 239A, tờ bản đồ số 8-I diện tích 673m²) và yêu cầu trả lại cho bà Đồng Thị N phần diện tích đất nhân khẩu tiêu chuẩn được HTX Hát Chúc chia năm 1991, diện tích 1.028m² của các ông bà Đồng Thị C, Đồng Văn Ả, Đồng Thị H, Đồng Thị M, Đồng Thị N, do di sản thừa kế đã được các đồng thừa kế thỏa thuận phân chia xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Các bà Đồng Thị H, Đồng Thị M, Đồng Thị N mỗi người phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đồng Thị N được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001072 ngày 25 tháng 5 năm 2023; Bà Đồng Thị H được trả lại số tiền 687.500đồng theo các biên lai thu số 0001761 ngày 20 tháng 12 năm 2022; Bà Đồng Thị M được trả lại số tiền 687.500đồng theo các biên lai thu số 0001760 ngày 20 tháng 12 năm 2022; Bà Đồng Thị N được trả lại số tiền 987.500đồng theo biên lai thu số 0001759 ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các ông, bà: Đồng Thị C, Đồng Văn Ả do là người cao tuổi. Ông Đồng Văn Ả được trả lại số tiền 987.500đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001758 ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Về chi phí tố tụng: Các ông bà Đồng Thị C, Đồng Văn Ả, Đồng Thị H, Đồng Thị M, Đồng Thị N phải liên đới chịu toàn bộ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo đạc là 20.000.000 đồng. Xác nhận đã thanh toán xong.
Về chi phí giám định: Bà Phạm Thúy K có trách nhiệm tất toán và hoàn trả bà Đồng Thị N toàn bộ số tiền gốc và lãi theo sổ tiết kiệm số AA 00005873157 ngày 11/9/2024 loại tiết kiệm không kỳ hạn tại Ngân hàng N2 (A) thành phố S, Thái Nguyên.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/9/2024 ông Ả, bà C, bà H, bà M, bà N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm ông Ả rút đơn kháng cáo, bà C, bà H, bà M, bà N có ý kiến yêu cầu ông C1 phải trả lại cho bà N 3,3 sào đất ruộng mà bà N
9
được Hợp tác xã chia nhưng ông C1 vẫn sử dụng của bà và còn đăng ký để được cấp quyền sử dụng đất. Ngoài ra các bà không đề nghị gì nữa.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận sự tự nguyện của bà C, bà H, bà M, bà N về việc yêu cầu ông C1 phải trả lại cho bà N số ruộng mà bà N được Hợp tác xã chia và sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ả, bà C, bà H, bà M, bà N; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1]. Các đương sự đều xác định ngoài diện tích đất ruộng được giao theo hạn mức, thì các diện tích đất còn lại và tài sản trên đất là do cụ H4 và cụ C2 tự khai phá và tạo lập lên. Ngày 11/02/1991, cụ Đồng Văn H4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 7.996 m² đất (gồm đất ONT + CLN, đất màu, đất 1 lúa và 2 lúa). Năm 1997, cụ H4 chết, không để lại di chúc. Ngày 17/01/2001, cụ Lê Thị C2 được cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0155988 (số vào sổ 07796/Q4) mang tên cụ Lê Thị C2, với tổng diện tích 8.372m² đất (9 thửa, gồm đất ONT + CLN, đất mầu, đất 1 lúa và 2 lúa, bãi mầu).
[2]. Ngày 17/8/2008, cụ Lê Thị C2, cùng 9 người con đã tiến hành lập biên bản Họp gia đình phân chia quyền sử dụng đất.
Biên bản có sự chứng kiến của trưởng xóm ông Đồng Văn L1, các ông bà Đồng Thị B, Đồng Thị L, Đồng Văn C1, Đồng Thị O, Đồng Thị C, Đồng Văn Ả, Đồng Thị H, Đồng Thị M, Đồng Thị N đều đã ký, ghi rõ họ tên và đã được chính quyền địa phương xác nhận.
[3]. Như vậy, di sản của cụ H4 và cụ C2 đã được các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ cùng nhau nhất trí thỏa thuận và định đoạt vào ngày 17/8/2008. Thời điểm này cụ C2 vẫn còn sống khỏe mạnh và hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo. Biên bản được lập công khai, có người làm chứng là trưởng xóm, được chính quyền địa phương xác nhận, đảm bảo các quy định của pháp luật. Sau thời điểm này không ai có đơn yêu cầu hủy bỏ tính hợp pháp của biên bản Phân chia quyền sử dụng đất này. Bà M và bà N cho rằng các bà không ký vào bản phân chia tài sản này nhưng tại bản kết luận giám định số 142/GĐ-VKHHS/BCA ngày 10/6/2024 của V Bộ C3 đã kết luận đúng chữ ký của bà Đồng Thị M trong biên bản ngày 17/8/2008, chỉ có chữ ký của
10
bà N là chưa đủ dữ liệu để khẳng định có phải chữ ký của bà N hay không, nhưng Toà sơ thẩm lại bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn là thiệt hại cho bà N, nay bà N cũng như các bà chỉ yêu cầu ông C1 phải trả lại cho bà N 3,3 sào đất ruộng được Hợp tác xã chia theo định suất tương ứng 1.188m² là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy cần buộc vợ chồng ông C1 phải trả lại cho bà N 3,3 sào tuy nhiên tại thửa số 4 tờ bản đồ số 8-III có 816m² và thửa số 205 tờ bản đồ số 8-I có diện tích 320m² đều là đất 1 lúa. Cộng cả hai thửa vào có diện tích 1.136m² sấp sỉ 3,3 sào bà N cũng đồng ý, thấy rằng hợp tình, hợp lý nên được chấp nhận. Bà N và vợ chồng ông C1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221391 và số AK 221392 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 14/01/2009 cho ông C1 sang tên bà N theo bản án.
[4]. Tại phiên toà phúc thẩm những người bảo vệ quyền và lợi ích cho những người kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của những người kháng cáo là phù hợp.
[5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự kháng cáo là có căn cứ.
[6]. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền thẩm định, định giá là 20.000.000đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí này. Xác nhận phía nguyên đơn đã nộp và thanh toán hết số tiền là: 20.000.000đồng.
Về chi phí giám định: Đại diện phía nguyên đơn bà Đồng Thị N đã nộp tạm ứng số tiền 13.000.000đồng, đã chi phí hết 5.900.000đồng, trả lại cho bà Đồng Thị N (đại diện nguyên đơn nộp) số tiền 7.100.000đồng khi án có hiệu lực. Bà Phạm Thúy K có trách nhiệm tất toán toàn bộ số tiền gốc và lãi để chi trả cho bà Đồng Thị N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Các Điều: 100, 166, 167 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Không chấp nhận kháng cáo của bà M, bà C, bà H. Chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm số 23/2024/DS - ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
11
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện về tranh chấp chia di sản thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đồng Thị B, bà Đồng Thị O và bà Đồng Thị L do đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Đồng Văn Ả do ông Ả rút kháng cáo.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ả, bà C, bà M, bà H về yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đồng Văn H4 và cụ Lê Thị C2.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Đồng Thị N đòi phần diện tích đất nhân khẩu tiêu chuẩn được HTX Hát Chúc chia năm 1991 nay còn 1.136m² sấp sỉ 3,3 sào theo 2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221391 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 14/01/2009 cho ông C1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221392 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 14/01/2009 cho ông C1.
- Buộc vợ chồng ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T phải trả lại cho bà Đồng Thị N thửa số 4 tờ bản đồ số 8-III có diện tích 816m² và thửa số 205 tờ bản đồ số 8-I có diện tích 320m² đều là đất 1 lúa theo hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
- Bà Đồng Thị N và vợ chồng ông Đồng Văn C1, bà Dương Thị T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221391 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 14/01/2009 cho ông C1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 221392 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 14/01/2009 cho ông C1 sang tên bà Đồng Thị N theo bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Các ông bà Đồng Thị C, Đồng Văn Ả, Đồng Thị H, Đồng Thị M, phải liên đới chịu toàn bộ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo đạc là 20.000.000 đồng. Xác nhận đã thanh toán xong.
Về chi phí giám định: Bà Phạm Thúy K có trách nhiệm tất toán và hoàn trả bà Đồng Thị N toàn bộ số tiền gốc và lãi theo sổ tiết kiệm số AA 00005873157 ngày 11/9/2024 loại tiết kiệm không kỳ hạn tại Ngân hàng N2 (A) thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đồng Thị C, ông Đồng Văn Ả do là người cao tuổi. Trả lại ông Đồng Văn Ả số tiền 987.500đ (chín trăm tám mươi bẩy nghìn, năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001758 ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Các bà Đồng Thị H, Đồng Thị M, mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đồng Thị N không phải chịu án phí sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí 987.500đ (chín trăm tám mươi bẩy nghìn, năm trăm đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0001759 ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi
12
hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Bà Đồng Thị H được trả lại số tiền 687.500đ (sáu trăm tám mươi bẩy nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0001761 ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Bà Đồng Thị M được trả lại số tiền 687.500đ (sáu trăm tám mươi bẩy nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0001760 ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí phúc thẩm:
- Bà Đồng Thị N không phải chịu án phí phúc thẩm. Được trả lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000757 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Bà Đồng Thị H, bà Đồng Thị M mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm. Xác nhận bà H, bà M đã nộp đủ tiền án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0000758 và biên lai thu số 0000759 ngày 23/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Ông Đồng Văn Ả và bà Đồng Thị C được miễn án phí phúc thẩm do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC HẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quế |
13
Bản án số 34A./2025/DS - PT ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 34A./2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ: Khoản 2 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Các Điều: 100, 166, 167 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Không chấp nhận kháng cáo của bà M, bà C, bà H. Chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm số 23/2024/DS - ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. 1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện về tranh chấp chia di sản thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đồng Thị B, bà Đồng Thị O và bà Đồng Thị L do đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
