Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 349/2024/HS-ST

Ngày: 29-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Cửu Long
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên

tòa: Ông Phạm Quốc Đạt – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 352/2024/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 394/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Thúc Đ, sinh ngày 25/5/1974, tại Quảng Ngãi; Giới tính: Nam;

Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Tổ 6 ấp B, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Huỳnh T, sinh 1941 và bà Trần Thị N (chết); Gia đình có năm anh em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: không. Đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ 18/4/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 2005

Địa chỉ: Số E Đường B, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty TNHH MTV D1

Địa chỉ: 4 Đường D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Đại diện theo pháp luật: ông Huỳnh Thúc Đ1, địa chỉ: 4 L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 27/3/2024, Huỳnh Thúc Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen, đỏ biển số 54S4-8167 đến cửa hàng F tại số A, Đường B, Khu phố C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua nước suối, nghỉ mệt, sau đó Đ đi ra quầy tính tiền. Tại quầy tính tiền có chị Nguyễn Thị Ngọc D đang làm việc, khi Đ đến quầy thì nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52 128Gb màu xanh của chị D đang để trên mặt quầy nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Lợi dụng lúc chị D đang tính tiền và xung quanh không - có người chú ý, Đ dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại của chị D, rồi đưa sang đáy ba lô của mình để giấu điện thoại đi. Sau khi tính tiền xong, tay phải Đ đặt dưới đáy ba lô để giữ điện thoại sau đó ôm theo ba lô ra ngoài, điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/4/2024, Đ quay lại cửa hàng F nơi chị D làm việc để mua nước uống. Lúc này, có anh Dương Bình T1 là quản lý cửa hàng nghi ngờ Đ trộm điện thoại của chị D nên báo cho chị D cùng Công an phường B đến đưa Đ về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Huỳnh Thúc Đ khai nhận nội dung sự việc như trên (Bút lục: 52 – 55; 66 – 74).

Kết luận định giá tài sản số 196-KV3/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 01 diện thoại di động hiệu S A52 8GB 128GB màu xanh giá trị 2.633.000 đồng (Bút lục: 20).

Vật chứng vụ án:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen đỏ, biển số 54S4-8167. Chủ sở hữu là Công ty TNHH MTV D1 (người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Thúc Đ1 trình bày xe mô tô trên Công ty TNHH MTV D1 đứng tên giùm cho Huỳnh Thúc Đ). Tra cứu vật chứng, xe mô tô trên không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng.
  • 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 051438 mang tên chủ xe: CT TNHH MTV DVTMQT HÀNH TINH XANH.
  • 01 điện thoại di động S A52 màu xanh 8GB 128Gb. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Ngọc D (Bút lục: 23).
  • 01 ba lô màu đen.
  • 01 USB bên trong có chứa dữ liệu liên quan đến vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự.

Chị Nguyễn Thị Ngọc D sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu về dân sự, đã viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ (Bút lục: 45)

Cáo trạng số 333/CT-VKSTP Thủ Đức ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Huỳnh Thúc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thúc Đ mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù
  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen đỏ, biển số 54S4-8167; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 051438 cho chủ sở hữu là Công ty TNHH MTV D1.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Thúc Đ tại phiên tòa phù hợp với nội dung lời khai của bị hại, phù hợp với dữ liệu hình ảnh trích xuất từ Camera đặt tại cửa hàng F tại số A, Đường B, Khu phố C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Bản ảnh nhận dạng; Bản kết luận định giá tài sản số: 196-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 27/3/2024, tại cửa hàng F tại số A, Đường B, Khu phố C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Huỳnh Thúc Đ đã lợi dụng sự sơ hở của chị Nguyễn Thị Ngọc D để lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A52 màu xanh 8GB 128Gb trị giá 2.633.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ngọc D. Là Huỳnh Thúc Đ đã phạm tội Trộm cắp tài sản trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Huỳnh Thúc Đ là người có sức khỏe, không chịu lao động làm ăn lương thiện nhưng bị cáo muốn có tiền để tiêu xài nên Huỳnh Thúc Đ đã chiếm

đoạt 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A52 màu xanh 8GB 128Gb có giá trị còn lại là 2.633.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ngọc D.

Hành vi trộm tài sản do Huỳnh Thúc Đ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo đầy đủ thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó Tòa án không phải giải quyết về bồi thường dân sự cho người bị hại.

[5] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • + Đối với 01 ba lô màu đen, bị cáo đã dùng để thực hiện hành vi phạm tội bị nghĩ nên tịch thu tiêu hủy
  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen đỏ, biển số 54S4-8167, 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 051438 do Công ty TNHH MTV D1 đứng tên chủ sở hữu nghĩ nên giao trả cho Công ty TNHH MTV D1.
  • - 01 USB bên trong có chứa dữ liệu liên quan đến vụ việc lưu trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thúc Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Huỳnh Thúc Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc D không có yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.

    1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
      • + Giao trả cho Công ty TNHH MTV D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen đỏ, biển số 54S4-8167, 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 051438.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 ba lô màu đen.

(Tài sản tịch thu tiêu hủy và giao trả được ghi trong Phiếu nhập kho vật chứng số 1870/LNK-ĐTTH ngày 10/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T).

  1. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Thúc Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - Viện KSND TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị hại;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Viết Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 349/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 349/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger