|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 349/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng.
ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
tham gia phiên toà: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 296/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2023/QÐST-HNGĐ ngày 22/12/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1992.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm E, thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. (nay là thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội).
(Nguyên có mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Y trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 20/9/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh H tại xã Đ và làm lao động tự do. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái. Mặt khác anh H không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Dù cả hai bên đã cố gắng hàn gắn, gia đình cũng khuyên bảo nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Thực tế vợ chồng đã ly thân từ tháng 08 năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu xin ly hôn anh H.
Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 18/8/2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung đang ở với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thùy T và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn H: hiện thường trú tại xóm E, thôn H, xã Đ, huyện M. Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến.
Tòa án đã lấy lời khai của bà Lê Thị T1 là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn H, bà T1 cho biết:
Chị Y và anh H tự nguyện kết hôn, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Y, anh H chung sống cùng với vợ chồng bà tại thôn H, xã Đ. Vợ chồng chị Y, anh H sống hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống, phát triển kinh tế gia đình, anh H đi làm ăn, không có thời gian quan tâm đến vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay chị Y có đơn xin ly hôn, quan điểm của bà và anh H là mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái, còn nếu chị Y kiên quyết xin ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vợ chồng chị Y và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 18/8/2014. Hiện con chung đang ở với mẹ là chị Y. Quan điểm của bà và gia đình là nếu chị Y vẫn kiên quyết xin ly hôn thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công sức và nợ chung bà không nắm bắt được.
Ngoài ra, bà T1 nhận trách nhiệm nhận thay cho anh H các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết thông báo trực tiếp ngay trong ngày và giao lại tận tay cho anh H.
Tuy nhiên bà không đồng ý ký vào các biên bản làm việc.
Tại Biên bản xác minh ngày 23/11/2023, Ủy ban nhân dân xã Đ cung cấp:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1992 và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 không thực việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ mà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội vào ngày 20/9/2013.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Y và anh H làm lao động tự do và sinh sống tại xã Đ. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo địa phương nắm bắt được là do bất đồng trong quan điểm, lối sống, phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái nên vợ chồng xảy ra bất hoà. Hiện chị Y không còn sống cùng anh H và gia đình nhà chồng. Nay chị Y có đơn xin ly hôn, quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 18/8/2014, theo giấy khai sinh số 343/2014 ngày 15/9/2014 của Ủy ban nhân dân xã Đ cấp. Ngoài ra, chị Y và anh H không thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con chung, con nuôi nào khác. Do con chung còn nhỏ nên đề nghị Toà án giải quyết để bảo đảm tốt nhất quyền lợi về mọi mặt cho cháu Nguyễn Thùy T.
- Về tài sản chung, công sức và nợ chung của vợ chồng chị Y và anh H địa phương không nắm bắt được. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Hiện anh Nguyễn Văn H đăng ký nơi thường trú tại xóm E, thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:
Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn anh Nguyễn Văn H dù được triệu tập và giao các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không đến làm việc, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: xét thấy từ khi vợ chồng ly thân, con chung vẫn ở với mẹ và còn nhỏ nên đề nghị giao cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 18/8/2014 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị Y trình bày không có và không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Y khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu và nơi cư trú tại thôn H, xã Đ, huyện M, đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Anh Nguyễn Văn H dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không đến làm việc. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Do bất đồng trong quan điểm lối sống, anh H không quan tâm đến vợ con nên cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn. Dù đã tìm mọi biện pháp để hòa giải và hàn gắn nhưng đều không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8 năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa.
Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh H bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị Y và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: xét yêu cầu nuôi con chung Nguyễn Thùy T, sinh ngày 18/8/2014 của chị Y thì thấy: từ khi vợ chồng ly thân, cháu Nguyễn Thùy T ở cùng chị Y, được nuôi dưỡng ổn định và phát triển bình thường. Ngoài ra, cháu T là con gái đang bước vào tuổi dậy thì, nên rất cần sự chăm sóc, dạy dỗ, tâm lý của người mẹ, nguyện vọng của cháu T cũng xin ở với chị Y. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị Y và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao cháu Nguyễn Thùy T cho chị Nguyễn Thị Y tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Y không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị Y xác nhận không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Tách phần tài sản, công sức và nợ chung để giải quyết trong vụ án khác nếu anh Nguyễn Văn H có yêu cầu.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Y chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- 2. Về con chung: xác nhận Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 18/8/2014. Giao cháu Nguyễn Thùy T cho chị Nguyễn Thị Y tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Y không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới.
Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- 3. Về tài sản chung, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị Y xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tách phần tài sản, công sức và nợ chung để giải quyết trong vụ án khác nếu anh Nguyễn Văn H có yêu cầu.
- 4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007537 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- 5. Quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND TP. Hà Nội;
- - VKSND huyện Mỹ Đức;
- - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- - UBND xã T (nơi đăng ký kết hôn);
- - Đương sự;
- - Lưu: HSVA, VT.
|
Hội thẩm nhân dân |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Đức Hiệp |
Bản án số 349/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 349/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
