|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG Bản án số: 349/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/12/2025 Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy; |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Kim Hoa; |
| Ông Nguyễn Văn Dũng. | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang. |
| Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: | Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia. |
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 275/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ H, ấp G, xã B, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Tổ H, ấp G, xã B, tỉnh An Giang (Có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2003, chị và anh Dương Văn N tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương, được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới, sau đó về chung sống với nhau, do không am hiểu pháp luật, nên không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị về sinh sống tại tổ H, ấp G, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nay là tổ H, ấp G, xã B, tỉnh An Giang).
Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau vui vẻ, hạnh phúc, thời gian sau giữa chị và anh N thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, giữa chị và anh N không còn tiếng nói chung, nên chị và anh N đã ly thân với nhau. Nay chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống mới tốt đẹp hơn, nên chị yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ giữa chị với anh Nghĩa L vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với chị và anh N có hai người con chung tên Dương Thị Ngọc Đ, sinh ngày 09/10/2004 và Dương Hữu T, sinh ngày 04/4/2009. Đối với con tên Ngọc Đ đã đủ tuổi trưởng thành, có gia đình riêng, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn con tên Hữu T, từ khi chị và anh N ly thân với nhau, thì con chung do chị nuôi dưỡng, nên chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định quá trình chung sống giữa chị và anh N không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Dương Văn N trình bày như sau:
Anh thống nhất với trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, anh có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý với nội dung khởi kiện của chị H là yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ giữa anh với chị H là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Anh và chị H chung sống có hai người con chung như chị H trình bày. Đối với con tên Dương Thị Ngọc Đ, sinh ngày 09/10/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, có gia đình riêng, nên anh thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn con tên Dương Hữu T, sinh ngày 04/4/2009, từ khi ly thân, con chung sinh sống cùng với chị H, nên anh đồng ý giao con chung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng anh sẽ lo cho con theo khả năng của mình.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Phan Thị H yêu cầu không công nhận quan hệ giữa chị với anh Dương Văn N là vợ chồng và xin nuôi con. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Dương Văn N có nơi cư trú hiện nay tại tổ H, ấp G, xã B, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị H và bị đơn anh Dương Văn N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Dương Văn N đều xác nhận rằng anh chị về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo định của pháp luật. Đây là các tình tiết, sự kiện được các bên đương sự thừa nhận, nên không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ vào việc thừa nhận của chị H và anh N chung sống với nhau, mà không có đăng ký kết hôn để giải quyết vụ án theo quy định.
Sau thời gian chung sống với nhau, chị H cho rằng giữa chị và anh N thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và đã ly thân với nhau, việc này cũng được anh N thừa nhận. Chính vì vậy, khi chị H yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ giữa chị với anh Nghĩa L vợ chồng, thì được anh N đồng ý.
Xét thấy, thời điểm chị H và anh N thiết lập quan hệ hôn nhân, thì anh chị đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng anh chị không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H với anh N đã vi phạm vào khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, HĐXX thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị H với anh Nghĩa L vợ chồng.
[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị H và anh N có hai người con chung tên Dương Thị Ngọc Đ, sinh ngày 09/10/2004 và Dương Hữu T, sinh ngày 04/4/2009. Đối với con tên Ngọc Đ đã đủ tuổi trưởng thành và có gia đình riêng, nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn con tên Hữu T, từ khi chị và anh N ly thân với nhau, thì con chung do chị H nuôi dưỡng, nên chị H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành.
HĐXX xét thấy, đối với cháu Dương Thị Ngọc Đ, sinh ngày 09/10/2004 đã đủ tuổi trưởng thành và có gia đình riêng, nên HĐXX không giải quyết.
Còn đối với cháu Dương Hữu T, sinh ngày 04/4/2009, từ khi chị H và anh N ly thân, thì chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T và hiện nay cháu T phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu T phát triển tốt về mọi mặt, nên giao cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và việc này cũng được anh N đồng ý.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh N xác định anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Phan Thị H với anh Dương Văn N là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Dương Hữu T, sinh ngày 04/4/2009 cho chị Phan Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị H và anh Dương Văn N xác định giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Phan Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009170 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị H không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
5
6
Bản án số 349/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con
- Số bản án: 349/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị H kiện Dương Văn Ng
