TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 349/2024/HS – ST
Ngày: 22 – 11 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Thống
- Ông Bùi Ngọc Thảo
– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 334/2024/TLST–HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 341/2024/QĐXXST–HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Công A
Sinh ngày 23/9/2001; Tại: Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T và con bà Nguyễn Thị T1. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 24/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS. (Tại bản án số 50/2019/HSST)
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đinh Như H – Sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Trần Thế Q – Sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Bà Phạm Thị H1 – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Bà Lê Thị Thanh N – Sinh năm 1986
Địa chỉ: Buôn U, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Ngô Thanh T2 – Sinh năm 1978
Địa chỉ: 1 C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Nguyễn Văn T3 sinh năm 1991
Địa chỉ: C Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Bà Hoàng Thị Ánh N1 – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Bà Nguyễn Thị Thanh L – Sinh năm 1983
Địa chỉ: A P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Đặng Hữu T4 – Sinh năm 1993
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Ngô Quốc V – Sinh năm 1990
Địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Mai Văn V1 – Sinh năm 2003
Địa chỉ: B N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Ông Nguyễn Văn Đ
Địa chỉ: B N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. - Bà Ngô Thị Tuyết
Địa chỉ: 30 Thôn Thắng, xã Q, Q, Thanh Hóa – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 3/2024 Lê Công A từ tỉnh Thanh Hóa đến thành phố B tỉnh Đắk Lắk, thuê khách sạn N2 địa chỉ B N, phường T, thành phố B để ở. Đến tháng 4/2024 Lê Công A dùng số tiền 100.000.000 đồng và lập một trang mạng xã hội Facebook "cho vay tiền nhanh Buôn Ma T5” ghi lại số thuê bao di động số 0965.089.185 gắn trong điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen để người vay liên hệ khi vay tiền. Sau khi người vay liên hệ vay tiền thì Lê Công A sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 47T1–193.46 trực tiếp đến nhà người vay để xác minh chỗ ở, giấy tờ liên quan, công việc hiện tại, khả năng tài chính. Nếu thấy người vay có khả năng trả tiền góp thì Lê Công A sẽ cho vay và yêu cầu người vay viết giấy vay tiền hoặc để lại giấy tờ tuỳ thân (CCCD, Giấy phép lái xe.....) để được vay. Lê Công A tự quy định hình thức cho vay tiền, thời gian cho vay và thu tiền phí của người vay. Ví dụ: Vay số tiền là 5.000.000 đồng, thời gian người vay trả xong khoản vay là 21 ngày, mỗi ngày thu 300.000 đồng, thu phí khoản vay là 300.000 đồng, thu trước ngày đầu và ngày cuối, khi thu đủ tiền gốc và lãi khoản vay này là 6.300.000 đồng (Trong đó: Tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 1.300.000 đồng). Lê Công A sử dụng số tài khoản ngân hàng H3 mở tại ngân hàng Q1, mang tên LE CONG ANH để chuyển tiền cho người vay và yêu cầu người vay đóng tiền góp hàng ngày qua số tài khoản của Lê Công A. Lê Công A sử dụng ứng dụng Banking số tài khoản ngân hàng 833636366666 trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, để lưu thông tin và dữ liệu liên quan đến hoạt động cho người dân vay tiền.
Từ ngày 02/4/2024 đến tháng 5/2024, Lê Công A đã trực tiếp cho 07 người vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- Ông Đinh Như H (sinh năm 1994, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 03 lần:
- Lần 01: Ngày 04/4/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí vay số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, ông H đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Lần 02: Ngày 19/4/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí vay số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, ông H đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Lần 03: Ngày 11/5/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí vay số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, ông H đã đóng được 15 ngày với số tiền 9.000.000 đồng, trong đó 7.142.857 đồng tiền gốc và 1.857.143 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 82.192 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 1.857.143 đồng + 600.000 đồng – 82.192 đồng = 2.374.951 đồng.
Lê Công A cho ông Đinh Như H vay tổng số tiền là 30.000.000 đồng thì đã thu lợi bất chính số tiền: 8.544.815 đồng.
- Bà Lê Thị Thanh N (sinh năm 1986, trú tại: Buôn U, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk), vay 03 dây:
- Dây 01: Ngày 06/4/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí vay số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, bà N đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Dây 02: Bà N vay 02 lần, cụ thể:
- Lần 01: Ngày 02/5/2024, vay 20.000.000 đồng, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 25 ngày, thu phí vay số tiền 500.000 đồng. Khoản vay này bà N đã đóng đủ 25 ngày với số tiền 25.000.000 đồng, trong đó 20.000.000 đồng tiền gốc và 5.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 273.973 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 5.000.000 đồng + 500.000 đồng – 273.973 đồng = 5.226.027 đồng.
- Lần 02: Vào ngày 20/5/2024, vay 20.000.000 đồng, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 25 ngày, thu phí vay số tiền 200.000 đồng. Khoản vay này bà N đã đóng được 06 ngày với số tiền 6.000.000 đồng, trong đó 4.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 65.753 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng + 200.000 đồng – 65.753 đồng = 1.334.247 đồng.
- Dây 03: Vào ngày 16/5/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí vay số tiền 500.000 đồng. Khoản vay này, bà N đã đóng được 09 ngày với số tiền 5.400.000 đồng, trong đó 4.285.714 đồng tiền gốc và 1.114.286 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 49.315 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 1.114.286 đồng + 500.000 đồng – 49.315 đồng = 1.664.971 đồng.
Lê Công A cho bà Lê Thị Thanh N vay tổng số tiền là 60.000.000 đồng thì đã thu lợi bất chính số tiền: 11.310.177 đồng.
- Ông Trần Thế Q (sinh năm 1977, trú tại: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 01 lần: Ngày 08/4/2024, vay số tiền 50.000.000 đồng, hình thức vay góp, mỗi ngày góp 2.500.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 25 ngày, không thu phí khoản vay. Khoản vay này ông Q đã đóng đủ 25 ngày với số tiền 62.500.000 đồng, trong đó 50.000.000 đồng tiền gốc và 12.500.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 684.932 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 12.500.000 đồng – 684.932 đồng = 11.815.068 đồng.
- Ông Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1991, trú tại: C Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 02 dây, cụ thể:
- Dây 01: Vay 04 lần
- Lần 01: ngày 02/4/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, ông T3 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Lần 02: Ngày 13/4/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, ông T3 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Lần 03: Ngày 21/4/2024, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày góp 600.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, ông T3 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 12.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.600.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
- Lần 04: Ngày 24/4/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, mỗi ngày góp 300.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, phí khoản vay 300.000 đồng. Khoản vay này, ông T3 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền gốc và lãi 6.300.000 đồng, trong đó 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.300.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 57.534 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng + 300.000 đồng – 57.534 đồng = 1.542.466 đồng.
- Dây 02: Vay 01 lần, vào ngày 13/5/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày góp 500.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí khoản vay 500.000 đồng. Khoản vay này, ông T3 đã đóng được 12 ngày với số tiền 6.000.000 đồng, trong đó 4.571.429 đồng tiền gốc và 1.428.571 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 52.603 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 1.428.571 đồng + 500.000 đồng – 52.603 đồng = 1.875.968 đồng.
Lê Công A cho ông Nguyễn Văn T3 vay tổng số tiền là 43.000.000 đồng thu lợi bất chính số tiền: 12.673.230 đồng.
- Dây 01: Vay 04 lần
- Ông Ngô Thanh T2 (sinh năm 1978, trú tại: 1 C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 01 lần: Ngày 08/4/2024, ông T2 vay số tiền 20.000.0000 đồng, mỗi ngày góp 1.200.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn 21 ngày, thu phí khoản vay là 1.200.000 đồng. Khoản vay này ông T2 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 25.200.000 đồng, trong đó 20.000.000 đồng tiền gốc và 5.200.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 230.137 đồng, nên A đã thu lợi bất chính số tiền: 5.200.000 đồng + 1.200.000 đồng – 230.137 đồng = 6.169.863 đồng.
- Bà Phạm Thị H1 (sinh năm 1990, trú tại: Thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk), vay 02 lần, cụ thể:
- Lần 01: Ngày 10/5/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, mỗi ngày góp 1.200.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí khoản vay là 1.200.000 đồng. Khoản vay này bà H1 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 25.200.000 đồng, trong đó 20.000.000 đồng tiền gốc và 5.200.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 230.137 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 5.200.000 đồng + 1.200.000 đồng – 230.137 đồng = 6.169.863 đồng.
- Lần 02: Vào ngày 22/5/2024, vay số tiền 30.000.000 đồng, hình thức vay góp, mỗi ngày góp 1.800.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí khoản vay là 1.800.000 đồng. Khoản vay này bà H1 đã đóng được 01 ngày với số tiền 1.800.000 đồng, trong đó 1.428.571 đồng tiền gốc và 371.429 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 16.438 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 371.429 đồng + 1.800.000 đồng – 16.438 đồng = 2.154.991 đồng.
Lê Công A cho bà H1 vay tổng số tiền là 50.000.000 đồng thu lợi bất chính số tiền: 8.324.854 đồng.
- Bà Hoàng Thị Ánh N1 (sinh năm 1990, trú tại: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk), vay 01 lần: Ngày 03/4/2024, vay số tiền 8.000.000 đồng, mỗi ngày góp 500.000 đồng cả gốc và lãi, thời hạn vay 21 ngày, thu phí khoản vay số tiền 600.000 đồng. Khoản vay này, bà N1 đã đóng đủ 21 ngày với số tiền 10.500.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng tiền gốc và 2.500.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 92.054 đồng, nên Lê Công A đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000 đồng + 600.000 đồng – 92.054 đồng = 3.007.946 đồng.
Tổng cộng, Lê Công A đã cho 07 người vay, với tổng số tiền cho vay 261.000.000 đồng, tổng số tiền phí đã thu 11.100.000 đồng, tổng số tiền lãi bất chính đã thu 53.271.429 đồng, tổng lãi suất cao nhất theo quy định Nhà nước là 2.525.479 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 61.845.950 đồng.
Theo quy định Khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự thì lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trường hợp lãi suất theo thoả thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại Khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Lãi suất tính lãi = Số tiền lãi ngày x 365 ngày x100%
Số tiền gốc vay
Như vậy, từ tháng 4/2024 đến tháng 5/2024, tại thành phố B, Lê Công A đã cho 07 người dân vay tiền với tổng số tiền gốc cho vay là 261.000.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 61.845.950 đồng, lãi suất Lê Công A cho vay từ 121.67%/năm đến 365%/năm, gấp từ 6.08 lần đến 18.25 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 342/CT-VKS –HS ngày 25/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã truy tố Lê Công A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Công A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Công A phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
+ Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Công A từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max số IMEI 1: 35 002296462014 0; IMEI 2: 35002296483244 8, kèm sim điện thoại mạng vinaphone có số thuê bao 0941328386 có số seri sim 89840200011103374623; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, IMEI 1: 353482151303677; IMEI 2: 353482153303675, kèm theo 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0965.089.xxx có số seri sim 8984048000927376607 và 01 mạng sim Vinaphone số thuê bao 0867.604.xxx có số seri sim 8984048000927862538; 01 xe mô tô gắn biển số 47T1–193.46, loại xe: Hai bánh từ 50–170cm3, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JUPITER, màu sơn: Đỏ Đen, là các tài sản của bị cáo Lê Công A dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước nhưng cần tiếp tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.
Đối với: 01 Căn cước công dân số [...], mang tên Phạm Thị H1; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Đinh Như H và 01 Giấy phép lái xe số AV 243138 mang tên Nguyễn Văn T3, là tài sản của anh H, T3 và chị H1 cần trả lại cho các chủ tài sản nhận quản lý nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.
Đối với: 01 giấy vay tiền của ông Nguyễn Văn T3, viết ngày 02/4/2024; 01 giấy vay tiền của ông Đinh Như H, viết ngày 04/4/2024;01 giấy vay tiền của bà Lê Thị Thanh N, viết ngày 06/4/2024 và 01 giấy vay tiền của bà Phạm Thị H1, viết ngày 10/5/2024, là các tang vật chứng của vụ án nên cần lưu trong hồ sơ đê đảm bảo công tác xét xử.
Về trách nhiệm dân sự:
Truy thu của bị cáo Lê Công A tổng số tiền 207.754.050 đồng (Trong đó: Số tiền 205.228.571 đồng là tiền gốc người vay đã trả và số tiền 2.525.479 là tiền lãi theo quy định lãi suất 20%) đề nộp sung ngân sách Nhà nước;
Buộc bị cáo Lê Công A trả lại số tiền tổng số tiền 61.845.950 đồng (là số tiền đã thu lợi bất chính cho những người vay tiền), cụ thể: Trả lại cho ông Đinh Như H số tiền 8.544.815 đồng; Bà Lê Thị Thanh N số tiền 11.310.177 đồng; Ông Trần Thế Q số tiền 11.815.068 đồng; Ông Nguyễn Văn T3 số tiền 12.673.230 đồng; Ông Ngô Thanh T2 số tiền 6.169.863 đồng; Bà Phạm Thị H1 số tiền 8.324.854 đồng; và Bà Hoàng Thị Ánh N1 số tiền 3.007.946 đồng;
Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tổng số tiền 55.771.429 đồng (là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Lê Công A) để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau: Ông Đinh Như H số tiền 2.857.143 đồn; Bà Lê Thị Thanh N số tiền 20.914.286 đồng; Ông Nguyễn Văn T3 số tiền 3.428.571 đồng; Bà Phạm Thị H1 số tiền 28.571.429 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Công A không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2024 đến tháng 5/2024 tại thành phố B, bị cáo Lê Công A đã cho 07 người dân vay tiền với tổng số tiền gốc cho vay là 261.000.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 61.845.950 đồng, lãi suất Lê Công A cho vay từ 121.67%/năm đến 365%/năm, gấp từ 6.08 lần đến 18.25 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự thì bị phát hiện xử lý
Do đó bị cáo Lê Công A đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Lê Công A theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng mà còn mang tính chất bóc lột, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo, một số tiền thích hợp để nộp vào công quỹ Nhà nước.
[2.4] Về việc khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự: Xét thấy, bị cáo Lê Công A không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
[2.5] Đối với anh Đặng Hữu T4 (sinh năm 1993, trú tại Tổ dân phố A, phường T, thành phố B) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 47T1–193.46. Quá trình điều tra xác định: Anh T4 đã bán chiếc xe mô tô biển số 47T1–193.46 cho cửa hàng xe máy Việt N, địa chỉ B L, phường E, thành phố B. Anh T4 không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Công A nên Cơ quan điều tra không để cập xử lý.
Đối với Mai Văn V1 (sinh năm 2003, trú tại Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa), Nguyễn Văn Đ (sinh năm 2001, trú tại Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) là những người cho bị cáo Lê Công A vay mượn tiền. Quá trình điều tra xác định: Mai Văn V1, Nguyễn Văn Đ không góp tiền chung để cho bị cáo Lê Công A cho vay lãi nặng, không thu lợi bất chính từ những khoản tiền vay mượn. Do vậy Mai Văn V1, Nguyễn Văn Đ không đồng phạm cùng với bị cáo Lê Công A. Hiện Mai Văn V1, Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Lê Công A bồi thường số tiền đã vay mượn nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chị Ngô Thị T6 (sinh năm 2003, trú tại Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, là vợ của Mai Văn V1). Quá trình điều tra xác định: Mai Văn V1 dùng số tài khoản 19036699715013 mở tại ngân hàng T9 để chuyển tiền cho Lê Công A vay mượn. Chị T6 không biết V1 dùng tài khoản để chuyển tiền cho Lê Công A, không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Công A nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chị Ngô Thị Thanh L1 (sinh năm 1983, trú tại A P, phường T, thành phố B) là người dùng các số tài khoản 1037178643 của ngân hàng V2 và số tài khoản 6311380078 của ngân hàng Đ1 chuyển tiền đến số tài khoản 8336363666666 của bị cáo Lê Công A. Tháng 4/2024 có một số người khách (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến mua sim card của chị L1 thì có nhờ chị L1 chuyển khoản cho Lê Công A. Quá trình điều tra xác định: Chị Ngô Thị Thanh L1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Công A nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Cơ quan điều tra tách những người khách (chưa rõ nhân thân lai lịch) chuyển khoản cho Lê Công A để xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với anh Phạm Ngọc T7, chị Bùi Ngọc H2 và chị Nguyễn Thị Bích T8 là những người vay tiền của bị cáo Lê Công A. Hiện những người này không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[2.6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max số IMEI 1: 35 002296462014 0; IMEI 2: 35002296483244 8, kèm sim điện thoại mạng vinaphone có số thuê bao 0941328386 có số seri sim 89840200011103374623; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, IMEI 1: 353482151303677; IMEI 2: 353482153303675, kèm theo 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0965.089.xxx có số seri sim 8984048000927376607 và 01 mạng sim Vinaphone số thuê bao 0867.604.xxx có số seri sim 8984048000927862538; 01 xe mô tô gắn biển số 47T1–193.46, loại xe: Hai bánh từ 50–170cm3, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JUPITER, màu sơn: Đỏ Đen, là các tài sản của bị cáo Lê Công A dùng vào việc phạm tội.
Trả lại đối với: 01 Căn cước công dân số [...], mang tên Phạm Thị H1; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Đinh Như H và 01 Giấy phép lái xe số AV 243138 mang tên Nguyễn Văn T3.
Đối với: 01 giấy vay tiền của ông Nguyễn Văn T3, viết ngày 02/4/2024; 01 giấy vay tiền của ông Đinh Như H, viết ngày 04/4/2024;01 giấy vay tiền của bà Lê Thị Thanh N, viết ngày 06/4/2024 và 01 giấy vay tiền của bà Phạm Thị H1, viết ngày 10/5/2024, là các tang vật chứng của vụ án nên cần lưu trong hồ sơ đê đảm bảo công tác xét xử.
[2.7] Về dân sự:
Truy thu của bị cáo Lê Công A tổng số tiền 207.754.050 đồng (Trong đó: Số tiền 205.228.571 đồng là tiền gốc người vay đã trả và số tiền 2.525.479 là tiền lãi theo quy định lãi suất 20%) đề nộp sung ngân sách Nhà nước;
Buộc bị cáo Lê Công A trả lại số tiền tổng số tiền 61.845.950 đồng (là số tiền đã thu lợi bất chính cho những người vay tiền), cụ thể: Trả lại cho ông Đinh Như H số tiền 8.544.815 đồng; Bà Lê Thị Thanh N số tiền 11.310.177 đồng; Ông Trần Thế Q số tiền 11.815.068 đồng; Ông Nguyễn Văn T3 số tiền 12.673.230 đồng; Ông Ngô Thanh T2 số tiền 6.169.863 đồng; Bà Phạm Thị H1 số tiền 8.324.854 đồng; và Bà Hoàng Thị Ánh N1 số tiền 3.007.946 đồng;
Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tổng số tiền 55.771.429 đồng (là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Lê Công A) để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau: Ông Đinh Như H số tiền 2.857.143 đồn; Bà Lê Thị Thanh N số tiền 20.914.286 đồng; Ông Nguyễn Văn T3 số tiền 3.428.571 đồng; Bà Phạm Thị H1 số tiền 28.571.429 đồng.
[2.7] Về án phí: Bị cáo Lê Công A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền trả lại. Cụ thể:
61.845.950 đồng x 5% = 3.092.000 đồng (làm tròn) (Ba triệu không trăm chín mươi hai ngàn đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Công A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Công A 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ 04 ngày (tương ứng 12 ngày cải tạo không giam giữ); Thời gian cải tạo không giam giữ còn lại phải chấp hành 17 tháng 18 ngày, Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lê Công A cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; là nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật thi hành án hình sự 2019.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Công A.
*Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự
+ Phạt bổ sung bị cáo Lê Công A số tiền 45.000.000 đồng nộp vào công quỹ Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng và dân sự: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max số IMEI 1: 35 002296462014 0; IMEI 2: 35002296483244 8, kèm sim điện thoại mạng vinaphone có số thuê bao 0941328386 có số seri sim 89840200011103374623; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, IMEI 1: 353482151303677; IMEI 2: 353482153303675, kèm theo 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0965.089.xxx có số seri sim 8984048000927376607 và 01 mạng sim Vinaphone số thuê bao 0867.604.xxx có số seri sim 8984048000927862538; 01 xe mô tô gắn biển số 47T1–193.46, loại xe: Hai bánh từ 50–170cm3, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JUPITER, màu sơn: Đỏ Đen, là các tài sản của bị cáo Lê Công A dùng vào việc phạm tội.
Trả lại đối với: 01 Căn cước công dân số [...], mang tên Phạm Thị H1; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Đinh Như H và 01 Giấy phép lái xe số AV 243138 mang tên Nguyễn Văn T3.
*Về trách nhiệm dân sự:
Truy thu của bị cáo Lê Công A tổng số tiền 207.754.050 đồng (Trong đó: Số tiền 205.228.571 đồng là tiền gốc người vay đã trả và số tiền 2.525.479 là tiền lãi theo quy định lãi suất 20%) đề nộp sung ngân sách Nhà nước;
Buộc bị cáo Lê Công A trả lại tổng số tiền 61.845.950 đồng (là số tiền đã thu lợi bất chính cho những người vay tiền), cụ thể: Trả lại cho ông Đinh Như H số tiền 8.544.815 đồng; Bà Lê Thị Thanh N số tiền 11.310.177 đồng; Ông Trần Thế Q số tiền 11.815.068 đồng; Ông Nguyễn Văn T3 số tiền 12.673.230 đồng; Ông Ngô Thanh T2 số tiền 6.169.863 đồng; Bà Phạm Thị H1 số tiền 8.324.854 đồng; và Bà Hoàng Thị Ánh N1 số tiền 3.007.946 đồng;
Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tổng số tiền 55.771.429 đồng (là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Lê Công A) để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau: Ông Đinh Như H số tiền 2.857.143 đồng; Bà Lê Thị Thanh N số tiền 20.914.286 đồng; Ông Nguyễn Văn T3 số tiền 3.428.571 đồng; Bà Phạm Thị H1 số tiền 28.571.429 đồng.
*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Công A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.092.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Kim Cúc |
Bản án số 349/2024/HS – ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 349/2024/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Công A phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
