|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 349/2024/HSST Ngày: 24/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Trường
- Ông Hồ Sỹ Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 352/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 388/2024/HSST- QĐXX ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Đỗ Như T, sinh năm 2001, tại thành phố Cần Thơ. Nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở trước khi bị bắt: không nơi cư trú cố định; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Đỗ Như T1 và bà Trần Thị D; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V. (có mặt)
- Lê Văn D1, sinh năm 1986, tại tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú: Ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở trước khi bị bắt: không có nơi cư trú ổn định; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm biển; Con ông Lê Văn T2 và bà Lương Thị L; có vợ là Võ Thị Phương L1 (đã ly thân); Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006; nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V(có mặt)
- Biện Mỹ D2, sinh năm 1996 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi thường trú: Ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở trước khi bị bắt: không có nơi cư trú ổn định; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Biện Nhân X và bà Võ Thị Đ; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 01/02/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố V. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 45 phút, ngày 01/02/2024, tại phòng số 101 nhà nghỉ T3, địa chỉ số A đường N, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an P, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện M, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho Trần Thanh H1 (sinh năm 1989; Nơi thường trú: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: hẻm D đường T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an P, thành phố V đã chuyển đối tượng, hồ sơ vụ án cùng vật chứng và các tài sản đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 01/02/2024, T, D1 và D2 đang ở tại phòng 101, nhà nghỉ T3 địa chỉ số A đường N, Phường C, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tại đây, T cho D1 mượn 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) để chuộc điện thoại trước đó D1 mang đi cầm. Lúc này, T nói kiếm đồ về chơi, D2 hiểu là kiếm ma túy về sử dụng, D2 nói gói ma tuý với giá 600.000₫ (sáu trăm ngàn đồng), T đưa thêm cho D1 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), D1 cầm tiền và lấy 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), là tiền của T để trên bàn uống nước. Sau đó, D1 đưa cho D2 2.200.000đ (hai triệu hai trăm ngàn đồng) nói đi lấy điện thoại cho D1 và mua ma túy đá về sử dụng, D2 đồng ý. Sau khi D2 đi mua ma túy, D1 đi mua nước uống và chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để lên bàn. Diện một mình bắt xe đến khu vực đường T, phường T, thành phố V gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua một gói ma túy đá với số tiền 600.000₫ (sáu trăm ngàn đồng). Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, D2 mang ma tuý đá về phòng số 101 nhà nghỉ T3 rồi để ma tuý lên bàn uống nước. T lấy gói ma túy dùng một đoạn ống hút màu vàng chiết một ít bỏ vào nỏ, dùng bật lửa đốt ma tuý lên rồi T, D1, D2 mỗi người sử dụng một hơi. Sau khi sử dụng ma tuý xong do cả nhóm mệt nên ngưng sử dụng, T cất giấu gói ma tuý và bộ D3 sử dụng ma tuý ở đầu giường không sử dụng nữa vì chuẩn bị trả phòng đi về, để lần sau cùng sử dụng. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Thanh H1 đến gặp D1 để đưa tiền cho D1 mượn rồi ngồi nói chuyện với mọi người. Lúc này, T đưa bộ dụng cụ bên trong có chứa ma tuý cho H1 sử dụng thì D1, D2 thấy và đồng ý, H1 hút ma túy khoảng được ba hơi rồi ngồi nói chuyện với mọi người. Đến khoảng 16 giờ 45 phút ngày 01/02/2024, Công an phường P, thành phố V phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật trên.
Kết luận giám định số 161/KL-KTHS-MT ngày 07/02/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu chất kết tinh không màu – trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong trong một phong bì màu trắng có hình con dấu của Công an P – Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên Trung tá: Trần Kim X1, Lê Công R, Trần Trung K, Trần Thanh H1, Đỗ Như T, Lê Văn D1, B Diện gửi đến giám định có khối lượng 0,2301 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, lời khai của Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục điều tra số 32, 33), phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng Trần Thanh H1, người chứng kiến anh Lê Công R (sinh năm 1974; Trú tại: số A đường N, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) (Bút lục điều tra số 117, 118) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.
Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản sau:
- 01 (một) gói nylon dạng túi zip bên trong có chất tinh thể không màu trong suốt. Qua giám định có khối lượng là 0,2301 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Sau giám định Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại một phong bì được niêm phong kết luận số:161/KL-KTHS-MT ngày 07/02/2024.
- 01 (một) điện thoại hiệu Vivo màu đen, số IMEI: 868466054927458 và 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu đen, số Sêri: R92W3092WFJ (của D2).
- 01 (một) điện thoại hiệu Vivo màu hồng, số IMEI: 868993037631733 (của D1).
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.
- 01 (một) kéo kim loại.
- 01 (một) bật lửa màu vàng.
- 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, trắng.
- 01 (một) xe máy hiệu Satria, biển kiểm soát: 70D1 – 75419, qua xác minh chủ xe là Đỗ Như T.
- Số tiền 900.000₫ (chín trăm ngàn đồng), thu giữ của D1.
Các vật chứng, tài sản nêu trên được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKSTPVT ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy hồ sơ có nhiều vấn đề cần làm rõ liên quan đến khung hình phạt truy tố đối với tội danh của các bị cáo nên Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu theo Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 29/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024.
Bản cáo trạng số 180A/CT-VKS ngày 07 tháng 10 năm 2024 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã thay đổi quan điểm truy tố so với cáo trạng trước, truy tố các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 đồng thời đề nghị HĐXX:
- Đối với bị cáo Đỗ Như T:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Đối với bị cáo Lê Văn D1:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D1 mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D1 mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Đối với bị cáo Biện Mỹ D2:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D2 mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D2 mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số số:161/KL-KTHS-MT ngày 07/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) cây kéo kim loại; 01 (một) bật lửa màu vàng, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, trắng do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo D2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo D2.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng và số tiền 900.000₫ (chín trăm ngàn đồng), là tài sản cá nhân của bị cáo D1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại bị cáo D1.
Đối với 01 (một) xe máy hiệu Satria, biển kiểm soát: 70D1 – 75419, qua xác minh chủ xe là bị cáo Đỗ Như T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo T.
Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 16 giờ 45 phút, ngày 01/02/2024 tại phòng số 101 nhà nghỉ T3, địa chỉ số A đường N, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 đã có hành vi tàng trữ ma túy để tổ chức cho nhau cùng sử dụng và tổ chức cho đối tượng Trần Thanh H1 sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, T có vai trò là người cung cấp tiền mua ma túy, D1 và D2 là người tìm đối tượng bán và trực tiếp mua, nhận ma túy, cung cấp dụng cụ để các bị cáo và đối tượng Trần Thanh H1 cùng sử dụng. Ngoài ra, các bị cáo T, D1, D2 còn tàng trữ trái phép 0,2301 gam, là ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng lần sau.
Hành vi của các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 đã thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội. Đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ phạm tội, nhằm cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo đồng thời phòng chống tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện M Diện không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) gói niêm phong số 161/KL-KTHS-MT ngày 07/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) cây kéo kim loại; 01 (một) bật lửa màu vàng, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, trắng do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, số IMEI: 868466054927458 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Sêri: R92W3092WFJ là tài sản cá nhân của bị cáo D2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo D2.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng, số IMEI: 868993037631733 và số tiền 900.000đ (chín trăm ngàn đồng), là tài sản cá nhân của bị cáo D1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo D1.
Đối với 01 (một) xe máy hiệu Satria, biển kiểm soát: 70D1 – 75419, qua xác minh chủ xe là bị cáo Đỗ Như T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho T.
[6] Về các vấn đề khác:
Về tính chất đồng phạm: Các bị cáo cùng cố ý mua ma túy về để tổ chức sử dụng trái phép cho bản thân và đối tượng khác, nhưng không có sự câu kết, bàn bạc chặt chẽ nên chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn.
Đối với đối tượng Trần Thanh H1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng H1 không góp tiền để sử dụng ma túy nên có căn cứ xử lý về trách nhiệm hình sự đối với H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy cho D2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố V tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với anh Lê Công R là chủ nhà nghỉ T3, không biết các bị can mua ma túy tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng số 101 nên không có căn cứ xử lý đối với anh R.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện M Diện phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Đỗ Như T:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Như T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Như T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung đối với 02 tội danh trên bị cáo Đỗ Như T phải chấp hành là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2024.
- Đối với bị cáo Lê Văn D1:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn D1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn D1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung đối với 02 tội danh trên bị cáo Lê Văn D1 phải chấp hành là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2024.
- Đối với bị cáo Biện Mỹ D2:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Biện Mỹ D2 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Biện Mỹ D2 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung đối với 02 tội danh trên bị cáo Biện Mỹ D2 phải chấp hành là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2024.
- Đối với bị cáo Đỗ Như T:
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 161/KL-KTHS-MT ngày 07/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) cây kéo kim loại; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, trắng.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, số IMEI: 868466054927458 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Sêri: R92W3092WFJ cho bị cáo Biện Mỹ D2.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng, số IMEI: 868993037631733 và số tiền 900.000đ (chín trăm ngàn đồng) bị cáo Lê Văn D1.
Trả lại 01 (một) xe máy hiệu Satria, biển kiểm soát: 70D1 – 75419, cho bị cáo Đỗ Như T.
Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu hiện đang quản lý, lưu giữ theo biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản số 218/BB-CCTHADS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Giấy nộp tiền ngày 29 tháng 5 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Như T, Lê Văn D1 và Biện Mỹ D2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Trịnh Thị Thường |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh BR-VT;
- - VKSND tỉnh BR-VT;
- - Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- - VKSND thành phố Vũng Tàu;
- - Công an thành phố Vũng Tàu;
- - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án
Bản án số 349/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 349/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt hình phạt tù đối với các bị cáo
