TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 349/2024/DS - ST Ngày: 12 - 9 - 2024 "V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1056/2023/TLST-DS ngày 18/12/2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 373/2024/QĐXXST-DS ngày 25/7/2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 49/TB-TA ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ;
Địa chỉ: A P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn : Ông Nguyễn Duy K, chức vụ: Nhân viên quản lý tín dụng là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng (văn bản ủy quyền ngày 07/8/2023, có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1982 (có mặt);
- Bà Võ Thị Mai X, sinh năm 1989 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông Nguyễn Duy K trình bày:
Ngày 31/8/2022, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh L (Ngân hàng) có cho ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X vay số tiền 2.000.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22 ngày 31/8/2022. Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh lúa, gạo. Thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 31/8/2022 đến ngày 28/02/2023.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông N và bà X có thế chấp cho Ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 870, tờ bản đồ số 2; loại đất HNK theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ450501 số vào số cấp GCN: CH01160 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 18/4/2011, cập nhật thay đổi ngày 22/12/2017 và thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, loại đất ONT, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ450502 số vào số cấp GCN: CH01161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 18/4/2011, cập nhật thay đổi ngày 22/12/2017. Cả 02 thửa đất đều tọa lại tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và do bà X đứng tên trên giấy CNQSD đất. Ông N, bà X và Ngân hàng xác lập Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0043/TC22 ngày 31/8/2022, được công chứng tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ và Bản cam kết ngày 31/8/2022 về việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế số K.0043/TC22 ngày 31/8/2022.
Trong quá trình thanh toán khoản vay, ông N và bà X đã vi phạm thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22. Do đó, Ngân hàng khởi kiện:
Yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X phải liên đới trả cho Ngân hàng Đ tổng số tiền là 2.358.356.164 đồng, trong đó tiền gốc là 2.000.000.000 đồng; tiền lãi tính đến ngày 12/9/2024 là 358.356.164 đồng và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22.
Trường hợp ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng được yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 870, tờ bản đồ số 2; loại đất HNK và thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, loại đất ONT; cùng tọa lại tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0043/TC22 ngày 31/8/2022, được công chứng tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ngày 31/8/2022 và Bản cam kết ngày 31/8/2022 về việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế số K.0043/TC22 ngày 31/8/2022 để đảm bảo thi hành án.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của đại diện Ngân hàng Đ. Ông thừa nhận tổng số tiền vợ chồng ông còn nợ Ngân hàng là 2.358.356.164 đồng, trong đó tiền gốc là 2.000.000.000 đồng; tiền lãi tính đến ngày 12/9/2024 là 358.356.164 đồng. Ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Trong trường hợp, vợ chồng ông không trả được tiền cho Ngân hàng, ông đồng ý để Ngân hàng được yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản thế chấp là thửa đất số 870, tờ bản đồ số 2; loại đất HNK và thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, loại đất ONT; cùng tọa lại tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để đảm bảo thi hành án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Võ Thị Mai X trình bày:
Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Để đảm bảo cho khoản vay, vợ chồng bà có thế chấp cho Ngân hàng 02 thửa đất 870, 871; cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Hai thửa đất này do bà đứng tên trên giấy CNQSD đất.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng Đ khởi kiện ông N, bà X, cùng địa chỉ cư trú tại huyện Đ, tỉnh Long An phải có trách nhiệm thanh toán khoản vay theo hợp đồng tín dụng nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
[2] Về xét xử vắng mặt: Bị đơn bà X có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà X theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của BLTTDS.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về yêu cầu trả tiền gốc:
Xét Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22 ngày 31/8/2022 giữa Ngân hàng Đ với ông N, bà X: Về bản chất, đây là hợp đồng vay tài sản, thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Điều 463 Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch. Ông N, bà X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N, bà X phải liên đới thanh toán số nợ gốc 2.000.000.000 đồng là có cơ sở, được HĐXX chấp nhận.
[3.2] Về yêu cầu trả tiền lãi:
Lãi suất vay các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Ông N và bà X đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả lãi theo cam kết nên Ngân hàng yêu cầu ông N và bà X phải liên đới trả tiền lãi tính đến ngày 12/9/2024 là 358.356.164 đồng (trong đó: tiền lãi trong hạn là 11.917.808 đồng; tiền lãi quá hạn là 346.438.356 đồng) là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền ông N, bà X phải liên đới trả cho Ngân hàng Đ là 2.358.356.164 đồng
[3.3] Về yêu cầu tiếp tục trả lãi quá hạn sau ngày Tòa án xét xử sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016, yêu cầu của nguyên đơn áp dụng tính lãi quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22 ngày 31/8/2022 sau ngày xét xử sơ thẩm là đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[3.4] Về biện pháp bảo đảm
Để đảm bảo cho khoản vay, ông N, bà X đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 870, tờ bản đồ số 2; loại đất HNK và thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, loại đất ONT; tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông N, bà X và Ngân hàng được lập thành văn bản, có đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định pháp luật. Về tài sản gắn liền các bên có xác lập Bản cam kết ngày 31/8/2022 về việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế số K.0043/TC22 ngày 31/08/2022. Do đó, trong trường hợp không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22 ngày 31/8/2022, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ là phù hợp nên được chấp nhận.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[4] Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 6.000.000 đồng. Ngân hàng Đ phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 180 BLTTDS. Ngân hàng Đ đã nộp và chi xong.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Ông N và bà X phải liên đới chịu. Ngân hàng đã nộp và chi xong. Ông N và bà X có nghĩa vụ liên đới hoàn lại cho Ngân hàng Đ số tiền này.
[6] Về án phí: Ông N, bà X phải liên đới chịu án phí là 79.167.123 đồng trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 180; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466; Điều 288 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010;
Căn cứ vào Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X.
- Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 2.358.356.164 đồng (hai tỷ, ba trăm năm mươi tám triệu, ba trăm năm mươi sáu ngàn, một trăm sáu mươi bốn đồng);
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0009/HM22 ngày 31/8/2022 và Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 001.K0009/HM22 ngày 31/8/2022.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 870, tờ bản đồ số 2; loại đất HNK theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ450501 số vào sổ cấp GCN: CH01160 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 18/4/2011, cập nhật thay đổi ngày 22/12/2017 và thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, loại đất ONT, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ450502 số vào sổ cấp GCN: CH01161 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 18/4/2011, cập nhật thay đổi ngày 22/12/2017 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0043/TC22 ngày 31/8/2022, được công chứng tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ngày 31/8/2022 và Bản cam kết ngày 31/8/2022 về việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế số K.0043/TC22 ngày 31/8/2022 để đảm bảo thi hành án.
- Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 2.358.356.164 đồng (hai tỷ, ba trăm năm mươi tám triệu, ba trăm năm mươi sáu ngàn, một trăm sáu mươi bốn đồng);
- Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 6.000.000 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ phải chịu, đã nộp và chi xong.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Mai X phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
- Ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị Mai X phải liên đới chịu 79.167.123 đồng (bảy mươi chín triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm hai mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 37.101.370 đồng (ba mươi bảy triệu, một trăm lẻ một ngàn, ba trăm bảy mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0005619 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho |
Bản án số 349/2024/DS - ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 349/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á “tranh chấp hợp đồng tín dụng” Nguyễn Văn Nghiệp
